Lili Marleen, bài hát lịch sử

 Lili Marleen, bài hát lịch sử


Hôm nay bổng nhiên nhớ vụ đi du lịch Đan Mạch khi nghỉ mùa xuân khi còn đi học ở Paris. Tình cờ mình quen 2 cô người Đức tên Klaudia và Ute, dạy hát bài “Lili Marleen”, một bài hát khởi đầu ở Đức quốc trong thời chiến tranh rồi lan đến Phi châu khiến quân sĩ của hai bên chiến tuyến đều yêu mến bài hát này và ngưng chiến không chính thức khi đài phát thanh cho phát thanh bài hát này. Mình chưa bao giờ đi lính nhưng xa gia đình nên dạo ấy nghe đến bài này nhớ nhà kinh khủng.

Marlene Dietrich người đức nhưng lại hát cho lính đồng mình trong thời chiến tranh

Theo kể là vào năm 1915, một bính sĩ Đức quốc tên Hans Leip, viết vài câu thơ khi đang đứng gác ở Bá Linh trước khi được chuyển ra mặt trận phía Nga trong thế chiến 1. Tương tự nhà văn Erick Maria Remarque viết trong Im Westen nichts Neues, Ông ta đặt tên tựa bằng cách ghép tên hai người con gái mà ông ta quen biết Lili và Marleen. Nói về nổi buồn của người lính trẻ gác đêm, nhớ về quê nhà, nhớ hai người con gái ở làng quê.

Nhà thơ Hans Leip, tác giả bài thơ được phổ nhạc 

Năm 1937, ông ta in nguyên bài thơ trong tập thơ của ông ta Die kleine Hafenorgel (“The Little Harbour Organ”) với tựa tên “Das Lied eines jungen Soldaten auf der Wacht” (“The Song of a Young Soldier on Watch”). 

Nhạc sĩ đã đưa bài thơ bất tử

Năm 1938, một nhạc sĩ tên Norbert Schultze phổ nhạc và bài hát nổi tiếng đượm chất buồn của người lính chiến. Thật ra có một bài khác được phổ nhạc trước ông ta nhưng bài này nổi nhất. Năm 1939 một ca sĩ tên Lale Andersen thâu đĩa nhạc dưới tựa “Das Mädchen unter der Laterne”  cô gái dưới bóng đèn nhưng không được thành công lắm. Xin nghe bài do Lili Marlene hát.


https://youtu.be/7heXZPl2hik?si=6Lpu2X_7GZkYRcNS


Trong thời kỳ chiến tranh bài hát này được phát thanh trên đài radio Belgrade vùng quân đức chiếm từ 1941. Bài này bổng nhiên được binh sĩ yêu cầu mỗi ngày ở phi châu rồi từ từ chạy qua bên kia chiến tuyến khiến các bính sĩ của Hoa Kỳ và Anh quốc yêu thích và chuyển ngữ qua anh ngữ mà ca sĩ Marlene Dietrich trình bày được yêu thích nhất.


Mình gặp cô Klaudia ở Copenhague, đi chơi với cô bạn rồi mình kêu Lili Marleen, hỏi cô tao có biết bài hát này vì cô ta giống Marlene Dietrich khiến cô ta cười, kêu không ngờ có tên a-na-mít biết đến bà hát này. Khi chào hai cô đức mình kêu Wie Einstein, Klaudia Ute. Có liên lạc thư từ nhưng rồi đi Hoa Kỳ nên mình mất tin tức luôn. Xin chép lại bài hát mà cô Klaudia đã ghi trong cuốn tập vẽ của mình:


Vor der Kaserne, vor dem großen Tor

Stand eine Laterne und steht sie noch davor.

So woll’n wir uns da wiederseh’n,

Bei der Laterne woll’n wir steh’n,

Wie einst, Lili Marleen,

Wie einst, Lili Marleen.


Unsre beiden Schatten sah’n wie einer aus;

Daß wir so lieb uns hatten, das sah man gleich daraus.

Und alle Leute soll’n es seh’n,

Wenn wir bei der Laterne steh’n,

Wie einst, Lili Marleen,

Wie einst, Lili Marleen.


Schon rief der Posten: Sie blasen Zapfenstreich;

Es kann drei Tage kosten! – Kamerad, ich komm ja gleich.

Da sagten wir auf Wiederseh’n.

Wie gerne wollt’ ich mit dir geh’n,

Mit dir, Lili Marleen,

Mit dir, Lili Marleen.


Deine Schritte kennt sie, deinen schönen Gang.

Alle Abend brennt sie, doch mich vergaß sie lang.

Und sollte mir ein Leid gescheh’n,

Wer wird bei der Laterne steh’n,

Mit dir, Lili Marleen,

Mit dir, Lili Marleen?


Aus dem stillen Raume, aus der Erde Grund

Hebt mich wie im Traume dein verliebter Mund.

Wenn sich die späten Nebel dreh’n,

Werd’ ich bei der Laterne steh’n,

Wie einst, Lili Marleen,

Wie einst, Lili Marleen.


Những lời ca này đã lột tả nỗi nhớ thương của người lính, khoảnh khắc chia ly dưới ánh đèn của toà canh gác, nỗi sợ hãi trước cái chết, cùng niềm hy vọng đoàn tụ với gia đình, người yêu tựa như một giấc mơ. Khổ thơ cuối cùng mang một vẻ ám ảnh, gần như ma mị, đã gây được tiếng vang sâu sắc trong suốt những năm tháng chiến tranh.


Mò mò thì thấy có bản nhạc này bằng anh ngữ như sau:


Outside the barracks, by the big gate,

There stood a lantern, and there it stands still to this day.

So we’ll meet again there,

We’ll stand beneath the lantern,

As we did before, Lili Marleen,

As we did before, Lili Marleen.


Our two shadows looked like one;

That we loved each other so much, anyone could see at a glance.

And everyone shall see it,

When we stand beneath the lantern,

As we did before, Lili Marleen,

As we did before, Lili Marleen.


The sentry already called: They’re sounding retreat;

It could cost me three days! – Comrade, I’m coming right away.

Then we said goodbye.

How I wished I could go with you,

With you, Lili Marleen,

With you, Lili Marleen.


She knows your footsteps, your lovely walk.

Every evening she burns, but she has long forgotten me.

And if something should happen to me,

Who will stand beneath the lantern,

With you, Lili Marleen,

With you, Lili Marleen?


From the quiet place, from the depths of the earth,

Your loving lips lift me as if in a dream.

When the late mists swirl,

I will stand beneath the lantern,

As I did before, Lili Marleen,

As I did before, Lili Marleen.


Phe quân đội Đức: Ca khúc này đã lột tả một cách hoàn hảo nỗi nhớ quê hương, sự chia ly với những người thân yêu, cùng nỗi u sầu của chiến tranh. Những người lính chiến đấu trên sa mạc, tại Mặt trận phía Đông và khắp các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng tại châu Âu đều vô cùng yêu mến bài hát này.


Phe quân đội Đồng minh: Lính Anh, lính Mỹ cùng các lực lượng Đồng minh khác tại Bắc Phi (và sau đó là tại châu Âu) thường xuyên dò đài Radio Belgrade chỉ để được nghe ca khúc này. Họ yêu thích bài hát bất chấp (hay chính vì) phần lời bằng tiếng Đức nên không hiểu nhưng thích. Nhiều người đã mô tả nó là một tác phẩm vô cùng lay động lòng người và gợi lên nỗi hoài niệm sâu sắc.


Nghe kể những cuộc "ngừng bắn" không chính thức thường diễn ra trên chiến trường sa mạc bắc Phi châu, mỗi khi bài hát vang lên, những người lính thuộc cả hai phe đều tạm ngưng giao chiến để cùng lắng nghe.


Sức thu hút mang tính phổ quát của ca khúc này nằm ở phần ca từ giản dị, giàu cảm xúc cùng giai điệu da diết, chạm đến những trải nghiệm chung của nhân loại về nỗi nhớ thương và sự chia ly, bất kể quốc tịch. Có lẻ qua đài phát thanh nên sau này các cuộc chiến tranh họ đều sử dụng đào phát thanh để tuyên truyền như khi xưa ở Việt Nam. Mình đọc đâu đó, nhạc sĩ Tô Hải nghe đài Sàigòn và ngạc nhiên khi nghe nhạc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, và Phạm Duy,… ông ta không ngờ nhạc sĩ Miền Nam có thể làm nữa già hát hay như vậy.


Dạo mình xem cuốn phim cũ của Dietrich Marlene, nghe cô ta hát với vẽ điệu nghiện thuốc lào nên mê dù dạo ấy chưa rành hiểu đức ngữ. Khi mình qua Thuỵ Sĩ làm việc thì cô Klaudia có ghé thăm vì gần biên giới Tây đức.


Joseph Goebbels cùng giới lãnh đạo Quốc xã tỏ ra không ưa ca khúc này vì cho rằng nó mang âm hưởng "u ám," "bi lụy" và thiếu đi chất quân sự cần thiết. Họ đã tạm thời cấm phát sóng bài hát này và tìm cách trấn áp nó. Tuy nhiên, chính sự phổ biến rộng khắp của ca khúc trong hàng ngũ binh sĩ đã buộc họ phải nhượng bộ, và bài hát tiếp tục được phát sóng trở lại.


Tương tự phía đồng minh cho rằng những ca từ bằng anh ngữ có thể làm giảm tinh thần chiến đấu của binh sĩ nên bắt viết lại như đã được đăng như trên. Mình tìm không ra lời cảu Andersen làm lúc đầu.


Nghe nói thi sĩ Hans Leip sống sót suốt 2 thế chiến và chết năm 89 tuổi ở Thuỵ Sĩ. Ông ta được đem đi trốn qua Thuỵ Sĩ bởi thân hữu vì sợ chính quyền Nazi làm khó dễ vì sáng tác của ông ta như kiểu Trăm Hoa Đua Nở tại miền bắc khi xưa. Ông ta có trở về Hamburg sau chiến tranh nhưng rời Đức quốc vĩnh viễn và sống ở quê hương thứ 2 đến khi qua đời.


Người ta có hỏi ông ta là hai người phụ nữ có thật hay không thì được trả lời. Đó là hai người con gái ông ta biết ở Berlin, Lili phụ bán hàng rau còn Marlene là con gái một bác sĩ nhưng nhiều cô gái đức kêu họ chính là nhân vật khiến thi sĩ Leip làm nên những bài thơ để đời. Ông Leip cho biết không bao giờ gặp lại hai cô gái ngày xưa từ khi ông ta ra mặt trận năm 1915.


Còn nhạc sĩ Norbert Schultze bị cấm sáng tác sau thế chiến thứ 2 vì ông ta là đảng viên của NAzi. Ông ta làm nghề làm vườn và thợ hồ. Đến năm 1948 thì được phép hành nghề lại nên có làm nhiều nhạc phẩm để đời. Nói cho ngay mình không thích nhạc đức lắm.


Viết tới đây thì mình nhớ thời trước 75, nhạc của Việt Nam Cộng Hoà “Nhạc Vàng” so với nhạc của Hà Nội cùng thời gian mà người ta gọi là “Nhạc Đỏ” với những ca từ như mùa ra trận đẹp lắm thấy thất kinh. Có lẻ nhờ vậy mà Hà Nội đã thắng. (Còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn