Hiển thị các bài đăng có nhãn Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng

chiến dịch Tailwind

 16 lính lực lượng đặc biệt của chiến dịch Tailwind



Mình hay vào các nhóm cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam để đọc những gì họ kể về thời chính chiến của họ tại Việt Nam cũng như còm khi thấy tin tức họ đưa không chính xác lắm. Hôm nay đọc được một nhóm 16 lính lực lượng đặc biệt của họ đột kích vào Hạ Lào cùng với lực lượng dân sự chiến đấu gốc thượng đâu 110 người thấy lạ lạ vì khi họ xâm nhập vào Hạ Lào là bí mật, không bận áo quần lính Mỹ, bị bắt cũng kêu không phải lính Mỹ vì nước Lào là trung lập Hoa Kỳ không được đánh đấm gì cả. Em xin tóm tắt lại đây. 

Không biết mình xoá đâu tấm ảnh. Nhóm này hình như llđb của Úc Đại Lợi. Có dịp mình kể về nhóm người úc này. Hình như Việt Cộng sợ họ hơn là lính mỹ. Vì nhóm này được từng huấn luyện đánh du kích với cộng sản tại Mã Lai dưới sự chỉ đoạ của người Anh quốc. Việt Cộng cũng sợ lính Nam Hà. Có dịp mình kể. Đọc tài liệu thấy kinh.


Theo mình hiểu là lực lượng đặc biệt Mỹ hay đóng đồn tại các điểm quan trọng dọc biên giới với các người thượng mà người Việt gọi là Dân Sự Chiến Đấu. Thiếu tá Phong của tiểu đoàn 204, Đại đội trinh sát 302, trước khi về Đà Lạt thì đóng ở trại lực lượng đặc biệt ở vùng tam biên, Bến Hét, nơi có hiểu người thượng sống với vợ con trong đồn. Mình có thấy nhìn tấm ảnh ở Ben Hét, thấy vợ con lúc nhúc bên cạnh. 


Trong cuộc chiến Việt Nam nước Lào và Cam bốt tuy trung lập nhưng lại để bộ đội cụ hồ sử dụng lãnh thổ của họ để đưa quân và súng đạn vào chiến trường miền nam. Từ đường mòn HCM đến hải cảng Sihanoukville. Việt Nam Cộng Hoà và Hoa Kỳ bị bó tay vì muốn tôn trọng công ước quốc tế khác với Hà Nội. Do đó Hoa Kỳ hay cho lực lượng đặc biệt xâm nhập vào Hạ Lào để theo dõi quá đội của Hà Nội nhưng phải bí mật. Tương tự trước khi đánh chiếm Iraq, Á Phú Hãn,..  lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ đều được thả vào mấy xứ này trước khi đánh vào. Mình nghĩ trước khi đánh Ba Tư, Hoa Kỳ cũng cho biệt kích của họ xâm nhập vào xem xét tình hình và báo cáo trước khi Mỹ và do thái dội bom. 


Mình có em một phim tài liệu kể một toán SAS của Anh quốc được thả vào Iraq tham thính rồi bị một đứa bé chăn cừu phát hiện. Họ không nở ra tay giết đứa bé thì đứa bé chạy về làng báo cáo và cả trung đoàn lính Iraq bao vây và bắt sống vài người cùng như giết một số. Mình đoán ngày nay biệt kích mà gặp trưởng hợp tương tự chắc họ sẽ giết hết để trừ hậu hoạn. 


Cuộc hành quân này không phải là một đội trinh sát nhỏ như thường lệ mà bao gồm 16 lính lực lượng đặc biệt và 110 lính gốc thượng du Việt Nam. Theo mình hiểu biệt kích của Mỹ thường đi từng nhóm nhỏ độ 6 người nên khi đi 16 người là chiến dịch lớn. 


Cả nhóm này được trực thăng bốc gần Dakto trên cao nguyên trung phần, sử dụng trực thăng CH-53 Sea Stallion hạng nặng . Mục đích chính của chiến dịch tìm cách đánh lạc hướng 30,000 bộ đội bác hồ cho một cuộc hành quân khác do CIA đang thực hiện trong vùng. 


Ngày 11 tháng 9 năm 1970. Từ Dakto đến điểm xuất phát, Cao nguyên Trung phần, Việt Nam Cộng hòa. Không khí trên sân bay không có mùi thơm không khí buổi sáng mà mang mùi nhiên liệu JP4 hàng không, mồ hôi lâu ngày và mùi kim loại sắc nhọn của dầu súng. Đó là một dung dịch nặng nề, ngột ngạt bám vào cổ họng. 16 người Mỹ đứng trong bóng của những chiếc trực thăng CH-53C Stallion khổng lồ.


Họ không giống những người lính bóng bẩy trên các bảng quảng cáo tuyển mộ ở Mỹ. Bộ đồ ngụy trang sọc hổ của họ đã phai màu, dính đầy đất sét đỏ của vùng Cao nguyên. Những chiếc ba lô không phải loại tiêu chuẩn. Chúng được cải tiến, nặng hơn 80 pound. Rất nặng. Mình đi bộ 375 km ở Ý Đại Lợi đeo theo có 20 cân anh đã thấy oải. 


Họ mang theo súng máy RPD cưa ngắn, súng carbine CAR-15, và đủ lựu đạn phân mảnh để san bằng một khu phố. Họ là những người của MACV-SOG. (Military Assistance Command, Vietnam Studies and Observations Group). Tên gọi che đậy gợi ý nghiên cứu học thuật. Thực tế là sự phủ nhận được viết bằng máu của người lính kiên cường. 


Trong số họ có Đại úy Gene McCarley. Ông là One Zero. Người chỉ huy đội. Ông kiểm tra đồng hồ. Ông nhìn sang các chiến binh bản địa đứng bên cạnh người Mỹ. Có 110 người. Người Montagnard, tên do người Pháp đặt tên, những người sống trên núi. Họ là các bộ tộc miền núi của Việt Nam. Những người coi rừng rậm không phải là môi trường thù địch mà là ngôi làng bị xâm lược. Họ căm thù Quân đội Bắc Việt với lòng thù hận qua nhiều thế hệ.


Hôm nay, McCarley và 16 lính llđb cùng với đại đội lính đánh thuê Montagnard này đang thực hiện một việc mà về mặt kỹ thuật là không từng xảy ra. Theo các bản đồ chính thức ở Washington DC và theo các buổi họp báo dành cho công chúng Mỹ, không có quân chiến đấu Mỹ nào ở Lào. Mình có kể một căn cứ biệt kích Mỹ ở Hạ Lào mà quân đội Mỹ dùng làm điểm để hướng dẫn B 52 thả bom tại miền bắc Việt Nam sau đó bị đặc nhiệm chiếm đóng. 


Thông tin bổ sung chi tiết về Operation Tailwind (Chiến dịch Đuôi Gió). Operation Tailwind là một cuộc đột kích bí mật xuyên biên giới do MACV-SOG thực hiện từ ngày 11–14 tháng 9 năm 1970 (một số tài liệu ghi chính từ 11–13). Đây không phải là đội trinh sát nhỏ (RT team) mà là một lực lượng Hatchet Force cỡ đại đội — một đơn vị đột kích lớn.


Lực lượng gồm 16 lính biệt kích Mỹ (Green Berets) dẫn đầu 110 lính Montagnard (Bru hoặc các bộ tộc miền núi khác), xuất phát từ gần Dak To, Cao nguyên Trung phần Việt Nam, bằng trực thăng CH-53 Sea Stallion của Thủy quân Lục chiến Mỹ.


Mục tiêu của chiến dịch nhằm tạo  sự phân tán các sư đoàn bộ đội bác hồ  bằng cách đột kích sâu vào đông nam Lào (khoảng 60–70 km về phía tây Dak To, gần Chavane và tuyến đường 165 Lào). Nhiệm vụ nhằm kéo lực lượng Quân đội Bắc Việt (NVA) đặc biệt là các đơn vị thuộc Nhóm Vận tải 559 bảo vệ Đường mòn Hồ Chí Minh khỏi một chiến dịch khác do CIA hỗ trợ liên quan đến lực lượng Hmong do tướng Vang Pao lãnh đạo ở Cao nguyên Bolovens phía bắc. Con số “30.000 bộ đội” trong một số kể lại phổ biến có thể là ước tính tổng lực lượng địch trong khu vực hoặc lực lượng bảo vệ Đường mòn có thể bị ảnh hưởng/chuyển hướng, chứ không phải đối đầu trực tiếp 30.000 quân tại một điểm. 120 mạng đâu có thể đánh lại 30,000 bộ đội ngoài trừ người Mỹ có anh hùng Lê Văn Tám. 


Các sự kiện chính được kể lại sau đây:


Ngày 11/9: Đổ bộ bằng trực thăng vào thung lũng, di chuyển mạnh để tiếp xúc và thu hút sự chú ý. Mình đoán biệt kích là âm thầm mà họ muốn Việt Cộng biết sự có mặt của họ. 

Giao tranh: Trong vài ngày, họ đụng độ nặng nề với NVA, chiếm một khu trại lớn và trung tâm hậu cần (hầm ngầm), tiêu diệt hàng chục lính NVA (một con số ghi nhận 54 người trong một lần đột kích). Họ thu được lượng tình báo khổng lồ: hàng trăm trang tài liệu, bản đồ được coi là một trong những thu hoạch tình báo quan trọng nhất về Đường mòn Hồ Chí Minh từ đầu chiến tranh. Mình có người chú ruột bị chết trên đường vào nam tại vùng này. 


Hiệu quả phân tán: Thành công kéo sự chú ý và lực lượng NVA về phía nam, hỗ trợ cho lực lượng Hmong/CIA đang hoạt động trong vùng. 


Rút lui (13–14/9): Khi NVA tăng viện (pháo cối, súng máy, quét lớn), họ rút lui trong giao tranh. Sử dụng nhiều LZ nhỏ để đánh lừa kẻ địch. Hỗ trợ không quân mạnh mẽ: 72 phi vụ chiến đấu, bom, rocket, napalm. Một số trực thăng CH-53 bị hư hại hoặc mất.


Thương vong: Phía Mỹ và đồng minh: Tất cả 16 người Mỹ bị thương (tổng cộng khoảng 33 Huân chương Tím). 3 Montagnard tử trận, 33 bị thương.


Phía địch: Khoảng 144 NVA bị tiêu diệt trực tiếp bởi lực lượng mặt đất, ước tính thêm 50 bị thương và 288 bị không quân tiêu diệt.

Kết quả: Nhiệm vụ thành công, hỗ trợ CIA/Hmong, thu được tình báo lớn. Đại úy Eugene C. McCarley (sau này là Trung tá) chỉ huy, được đề cử Huân chương Thập tự Dũng cảm (downgraded). Y tá Gary Michael Rose sau này được trao Huân chương Danh dự (nâng cấp năm 2017) nhờ cứu chữa dưới hỏa lực.


Câu chuyện này nổi tiếng hơn sau báo cáo gây tranh cãi năm 1998 của CNN/Time (sau rút lại) cáo buộc sử dụng vũ khí hóa học (khí CS, không phải sarin). Các cựu binh sĩ bác bỏ mạnh mẽ.


Chiến dịch Đuôi Gió (Operation Tailwind), một tài liệu mật mới được giải mã gần đây về một chiến dịch bí mật được chỉ huy bởi MACV-SOG (Military Assistance Command, Vietnam – Studies and Observations Group) trong 4 ngày từ  11–14, tháng 9 năm 1970 (có tài liệu cho biết chỉ có 3 ngày 11-13). Theo lời kể thì sáng ngày thứ 3 của cuộc hành quân, lính phe ta tấn công một trại lính bộ đội và hạ sát 54 bộ đội. Họ không hiểu tại sao các bộ đội không rút lui, bỏ chạy thì khám phá ra một căn hầm nằm dưới 12 cao bộ. Trong đó bộ đội cất dấu bản đồ và tài liệu. Sau đó họ tấn công một bộ tư lệnh của bộ đội kiểm soát con đường quốc lộ Lào 165. Họ thu nhặt hết tài liệu đêm về và bắt đầu chầu thì bộ đội bắt đầu bao vây. Ông McCarley chia ra 3 nhóm để đến 3 bãi đáp riêng biệt.


Vấn đề là năm 1998, CNN và Time Magazine cho ra đời một phóng sự về chiến dịch bí mật này và đặt tên là Thung Lũng Tử Thần. Họ cho biết là có sử dụng hơi ngạt mà chiến tranh quy ước cấm. Có người nói là có một đơn vị Hoa Kỳ xù thượng cấp chạy qua bên lào nên họ vào sào huyệt để xem, cho vị trí để máy bay bay đến xã hơi ngạt xuống, giết khá nhiều người trong làng. Sau này, bộ quốc phòng điều tra kêu không có, bắt CNN lên tiếng rút lại hình ảnh. Có ông Peter Arnett, phóng viên chiến trường nổi tiếng trên các mặt trận, hình như ông ta chết năm ngoái tại Nam Cali. Có dịp mình kể về ông này, vì ông ta phỏng vấn các tay tổ như Osama Bin Laden, Sadam Hussein,…


Cuộc chiến có nhiều vấn đề được đặt lại với nền đạo đức hôm nay. Như vụ tàn sát Mỹ Lai do lính mỹ gây ra hay Việt Cộng chôn sống, giết người ở Huế năm Mậu Thân hay pháo kích dân tình chạy nạn năm 1972 trên đại lộ kinh hoàng. Tương tự tấm ảnh tướng Nguyễn Ngọc Loan xử tử tên Việt Cộng vừa giết nguyên một gia đình mà người con trai bị bắn sống sót, sau này làm đến chức tướng của quân đội Hoa Kỳ. Có lẻ thế hệ con mình không dính dáng vào chiến tranh nên có thể xoá mờ còn thế hệ của mình đã chứng nhân cuộc chiến nhất là năm Mậu Thân thì đời đời vẫn nhớ.


https://www.usni.org/magazines/proceedings/2001/september/cnn-three-years-after-tailwind


Để rảnh mình kiếm đọc các tài liệu mật được giải mã sau mấy chục năm để hiểu thêm về cuộc chiến khá phức tạp, để hiểu lý do Việt Nam Cộng Hoà và Hoa Kỳ thua. 


https://youtu.be/8OrywCT6Cao?si=6L3inKtT9VrLOZqU


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

bán bệnh tật là nghề của bác sĩ

 Bán Bệnh Tật: Phơi bày cách ngành dược phẩm khổng lồ biến tất cả chúng ta thành bệnh nhân

Sống tại âu châu hơn 12 năm nhưng mình chả bao giờ đi khám bác sĩ dù có bảo hiểm y tế nhưng khi sang Hoa Kỳ, sau khi lấy vợ thì đồng chí gái kêu đi khám bác sĩ mỗi năm theo định kỳ thì phác giác ra mình có bệnh đủ thứ trò. Vợ bảo thì phải phục tùng vì phận trai thuyền quyên. Đến khi mình bị gãy chân khi leo núi, nằm trên giường, buồn đời đọc 5 cuốn sách về ung thư thì thất kinh nên từ đó tìm hiểu thêm về y tế vì không thể nào tin hoàn toàn vào bác sĩ của mình vì theo châm ngôn của y sĩ ngày nay là “giúp một bệnh nhân khỏi là mất đi một khách hàng”. Nên mình định nghĩa lại ngày nay lương y như kế mẫu. Một bệnh nhân là một con bò để bác sĩ vắt sữa 3 tháng một lần. Bò nhiều bệnh càng nhiều càng tốt.

Tìm tài liệu đọc thì khám phá ra có nhiều người lương y như từ mẫu, bị hội đồng y khoa rút bằng vì dám nói lên sự thật nên mình càng chới với. Có ông bác sĩ nào ở Úc Đại Lợi bị cấm hành nghề, phải kiện tụng đủ trò mới lấy lại được bằng hành nghề. Lý do là ông ta khuyên bệnh nhân ăn uống cẩn thận thì bị tố là không có bằng dinh dưỡng nên không được khuyên bệnh nhân. Từ đó hay kiếm phim tài liệu và sách đọc về y tế. Rất khó nuốt vì quá khô khan, không như tiểu thuyết, tình yêu vớ vẩn nhưng phải cố gắng vì sự nghiệp cách mạng để tự cứu lấy mình. Hôm nay mình kể về cuốn sách do một người úc đại lợi và một người Gia-nã-đại, viết cách đây 20 năm. Trên Prime của Amazon có khá nhiều tài liệu còn trên YouTube thì hay bị chận.


Năm 2005, cách đây 20 năm, nhà báo y tế Ray Moynihan và nhà nghiên cứu chính sách dược phẩm Alan Cassels đã xuất bản cuốn sách mang tính đột phá khiến các công ty dược phẩm không yêu thích lắm “Selling Sickness: How the World’s Biggest Pharmaceutical Companies Are Turning Us All Into Patients (tạm dịch: Bán Bệnh Tật: Các công ty dược phẩm lớn nhất thế giới đang biến tất cả chúng ta thành bệnh nhân như thế nào). Cuốn sách phê phán gay gắt cách kỹ nghệ dược phẩm mở rộng thị trường đúng theo quy trình, bằng việc quảng bá những trải nghiệm bình thường của con người thành các tình trạng bệnh lý cần điều trị bằng thuốc.


Luận điểm chính của cuốn sách bắt đầu bằng một câu trích dẫn từ một cựu giám đốc điều hành của công ty dược phẩm Hoa Kỳ Merck vào những năm 1970. Ông ấy buồn đời bị vợ la nên kêu rất thất vọng vì thuốc chỉ được bán cho người bệnh và mơ ước được sản xuất thuốc bán cho cả người khỏe mạnh, “bán cho mọi người”, giống như cách công ty Wrigley’s bán kẹo cao su. Chưa đau làm cho chúng bị đau, uống thuốc chúng càng đau thêm. 2 ông Moynihan và Cassels cho rằng tầm nhìn này đã trở thành hiện thực nhờ các chiến lược tiếp thị tinh vi: mở rộng ranh giới của bệnh tật, hạ thấp ngưỡng chẩn đoán và tạo ra nhu cầu ở những nơi trước đây không tồn tại, một quá trình mà họ và nhiều người khác gọi là bệnh hóa (disease mongering).

Các ý tưởng chính: Cách “bệnh tật” được sản xuất và bán ra


Các tác giả cấu trúc cuốn sách dưới dạng một loạt nghiên cứu trường hợp, mỗi chương phân tích một tình trạng bệnh cụ thể và thuốc liên quan để minh họa các chiến thuật mà “Big Pharma” sử dụng:

1.  Mở rộng định nghĩa về bệnh tật: Các công ty dược tài trợ cho các hướng dẫn y khoa và hội nghị đồng thuận nhằm tái định nghĩa những biến thể bình thường (như lão hóa, nhút nhát hay buồn bã) thành các rối loạn. Như Cholesterol khi xưa là chỉ số 356 là được xem là cao ngày nay thì chỉ số xuống còn 200 khiến ai cũng bị dính cả, phải uống thuốc. Các chuyên gia tham gia những hội nghị này thường có mối quan hệ tài chính với ngành công nghiệp, tạo ra xung đột lợi ích. Mình có xem một phim Ý Đại Lợi, nói về các người đi quảng bá thuốc, mua vé máy bay cho bác sĩ kê toa thuốc nhiều đi với gia đình du lịch ở các xứ khác miễn phí, có người lấy tiền bỏ túi.

2.  Hợp tác với bác sĩ và các nhóm bệnh nhân: Các hãng dược tài trợ giáo dục y khoa, hội nghị và các tổ chức vận động bệnh nhân, biến họ thành những người quảng bá (có thể vô tình hoặc cố ý). Các chiến dịch “nâng cao nhận thức” cho bệnh nhân, do các công ty dược phẩm tài trợ, giáo dục công chúng về những tình trạng “chưa được chẩn đoán đúng mức”. Lên mạng, thấy nhiều người không phải khoa học gia hay điều dưỡng viên, tuyên bố bệnh này bệnh nọ khiến người đọc hoang man, đi bác sĩ để xem xét lại. Ngày nay thì AI sử dụng các bác sĩ mà mình từng mua sách của họ rồi bựa ra đủ trò. 

Có một ông cựu bộ trưởng của Hy Lạp, nổi tiếng tỏng vụ Âu châu cứu xứ này khỏi bị phá sản. Ông này là mát-xít mình hay xem phỏng vấn ông ta về tình hình âu châu để hiểu thêm vì ông này có một cái nhìn khác với cộng đồng âu châu. Gần đây có AI làm video, bỏ ông ta lên nói đủ trò. Thiên hạ hỏi ông ta thì ông nói không phải do ông ta làm ra, họ dùng AI nhưng ông ta không làm gì được.

3.  Quảng cáo trực tiếp tới người tiêu dùng: Ở các quốc gia cho phép (như Mỹ), quảng cáo miêu tả những khó khăn đời thường thành các bệnh có thể điều trị, thúc đẩy bệnh nhân yêu cầu bác sĩ kê đơn thuốc cụ thể. Ở âu châu họ cấm được quảng cáo thuốc trên đài truyền hình còn ở Hoa Kỳ thì đủ loại nhưng 35% thời gian nói đến hệ ứng phụ, kêu cơ thể sau khi uống thuốc có hiệu ứng như này như nọ thì báo cáo ngay cho bác sĩ. Nếu họ nói đến hệ ứng phụ nghĩa là thuốc chưa đúng nhưng cứ bán ra đã.

4.  Tạo ra các rối loạn mới: Một số tình trạng gần như được “phát minh” hoặc phóng đại để phù hợp với thuốc mới, chẳng hạn biến sự cáu kỉnh nhẹ thành một rối loạn nghiêm trọng. Những chiến lược này biến những người khỏe mạnh hoặc chỉ gặp vấn đề nhẹ thành bệnh nhân suốt đời, tạo ra hàng tỷ đô la lợi nhuận đồng thời gây nguy cơ điều trị quá mức, tác dụng phụ và làm quá tải hệ thống y tế.


Các nghiên cứu trường hợp chính trong sách, em xin tóm tắc:

•  Cholesterol cao: Việc hạ thấp ngưỡng đã biến hàng triệu người thành “bệnh nhân” cần dùng statin, dù nhiều người có nguy cơ thực sự thấp. Chỉ số từ 240mg/dl còn 200mg/dl như ngày nay thì bố ai cũng bị cao mỡ, cái mất dạy là chúng ta cần mỡ để cơ thể hoạt động. Lá gan sản xuất 80% số lượng mỡ mà cơ thể cần hàng ngày.

•  Trầm cảm và thuốc SSRI: Tiêu chí mở rộng đã bệnh hóa nỗi buồn bình thường, thúc đẩy thuốc chống trầm cảm.

•  Mãn kinh và liệu pháp thay thế hormone (HRT): Được miêu tả như một bệnh thiếu hụt cần hormone dài hạn (sau này được phát hiện làm tăng nguy cơ sức khỏe). Đúng hơn là bệnh ung thư. Khi đồng chí gái đến thời kỳ mãn kinh, may có chị bạn là bác sĩ nói không nên uống. Bác sĩ biết sẽ gây ra bệnh ung thư nhưng bệnh nhân đến là cho toa về uống mệt thở.

•  Rối loạn lo âu xã hội: Sự nhút nhát được tái định khung thành tình trạng suy nhược có thể điều trị bằng thuốc như Paxil.

•  Rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD): Mở rộng sang người lớn, mở rộng thị trường thuốc kích thích.

•  Hội chứng ruột kích thích, loãng xương và rối loạn khó chịu tiền kinh nguyệt: Những vấn đề nhẹ hoặc phổ biến được nâng lên thành cần dùng thuốc.


Các tác giả dựa trên phỏng vấn người trong ngành, bác sĩ, nhân viên tiếp thị và các nguồn học thuật để cho thấy cách những nỗ lực này làm mờ ranh giới giữa bệnh thực sự và các “yếu tố nguy cơ” mang lại lợi nhuận. ông Ray Moynihan, cây bút thường xuyên của BMJ và Lancet, cùng ông Alan Cassels, chuyên gia Canada về chính sách dược phẩm, kết hợp báo chí điều tra với phân tích dựa trên bằng chứng. Tác phẩm của họ đã phổ biến khái niệm “bệnh hóa” và ảnh hưởng đến các cuộc tranh luận toàn cầu về quá trình y tế hóa quá mức.


Hai thập kỷ sau, cuốn Selling Sickness vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh lo ngại liên tục về ảnh hưởng của ngành dược khoa từ tiếp thị opioid đến các mở rộng hiện đại như ADHD ở người lớn hay thuốc điều trị béo phì. Cuốn sách kêu gọi sự hoài nghi đối với tin tức y tế, hướng dẫn độc lập và việc đánh giá lại điều gì thực sự cấu thành “bệnh tật” trong thời đại y học bị chi phối bởi lợi nhuận. Ở các xứ mà người Mỹ hay đến vào mùa thu để xem lá rụng, người dân địa phương bị nghiện thuốc Opiod.


Một điểm khác như bệnh loảng xương. Đầu thập niên 1990, một công ty dược phẩm chế tạo ra một loại thuốc trị bệnh loảng xương, mà dạo ấy chưa được hiểu rõ lắm. Các đại diện các công ty dược phẩm và bác sĩ  họp nhau tại cơ quan WHO để hội thảo, và quyết định thế nào là xương chắt là bình thường. Họ xếp loại ra sao mà 50% phụ nữ trên 70 tuổi bị bệnh loảng xương. Xem như trong vòng một đêm , 50% phụ nữ trên 70 tuổi thức dậy là có bệnh loảng xuống phải uống thuốc.


Các công ty này tặng miễn phí các y cụ cho các phòng mạch bác sĩ hay nhà thương để khám mật độ xương. Cái mất dạy là sau khi uống thuốc này sau nhiều năm khiến xương của bệnh nhân dòn và dễ gãy hơn. Chán Mớ Đời (còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Thuốc bổ sung lợi hay hại

 thuốc bổ sung, lợi hay hại


Từ ngày qua Mỹ mình thấy người Mỹ uống thuốc bổ sung hàng ngày nhất là người lớn tuổi. Nay về già thì nghe bác sĩ kêu uống thêm chất bổ sung như dầu cá, sinh tố C này nọ. Lại có bác sĩ kêu đâu cá có thể có chất độc. 



Hàng ngày thấy quảng cáo đủ loại trên truyền hình rồi trong cộng đồng Việt Nam cũng thấy quảng cáo bú xua la mua này nọ thiên hạ chạy mua rần rần. Hết chất bổ sung mỹ đến tàu, đại hàn, Nhật Bản rồi nay đến Việt Nam. 


Ngoài ra trên mạng xã hội có nhiều quảng cáo vô tội vạ. Cứ nói đến cỏ này bổ mông, lá kia chống ung thư, nói chung là cứ như cái chợ hằng hằng xa số. Không biết đâu mà mừng. 


Gần đây mình đọc tài liệu cho biết là kỹ nghệ chất bổ sung phát triển quá nhanh chóng vì người Mỹ rất chuộng về sức khỏe. Cứ nghe bạn bè nói ăn cái này uống cái kia bổ chim bổ ngựa là cứ mua. Uống được vài ngày rồi lại bỏ. Lâu lâu lựa ra thấy hết date quăng thùng rác. Rồi lại đi mua tiếp. Muốn giàu cứ bựa ra chất bổ sung bán kiếm tiền vì không chết ai cả. Ngay bà nào nổi tiếng trên 60 tuổi kêu ca bán sữa bà chúa. 


Nhưng gần đây nghiên cứu cho thấy 20% chất bổ sung và thuốc nam gây ảnh hưởng đến lá gan. Thậm chí tùy trường hợp lên đến 43%. Ai buồn đời thì đọc đường dẫn này.  https://journals.lww.com/hep/fulltext/2017/01000/liver_injury_from_herbal_and_dietary_supplements.36.aspx


Chúng ta sống trong một môi trường tư bản đầy ắp quảng cáo để bán và thường không hiểu kỹ nên cứ nghe bạn bè hay quảng cáo là tin sái cổ. Có lần mình hỏi một anh bạn, bác sĩ về quảng cáo thuốc tiên trong cộng đồng người Việt. Anh ta nói ở xứ này, nếu mà thuốc tiên này đúng như sự thật thì người chế ra loại thuốc tiên này đã giàu và bán cho người Mỹ gần 400 triệu người Mỹ. Đâu cần phải trả tiền quảng cáo như hàng chợ cá. Ám chỉ it một bác sĩ chuyên quảng cáo thuốc bổ. 


Hoa Kỳ là nước độc nhất cho phép quảng cáo thuốc trên truyền hình để người Mỹ có thể yêu cầu bác sĩ mình kê toa. Nếu để ý thì chúng ta thấy có đến 1/3 thời gian quảng cáo nói về hệ ứng phụ của thuốc. Tại sao thuốc tốt lại nói về hệ ứng phụ. Khi không uống thêm hệ ứng phụ. Lãnh nợ vào cơ thể. 


Mình không biết bài nghiên cứu được viện y tế quốc gia xuất bản  trên có phải được các công ty dược phẩm biên soạn nhưng nếu là sự thật thì chúng ta cần kiểm chứng đọc tài liệu kỹ lưỡng trước khi tiêu dùng. 


Số người Mỹ đợi thay lá gan (transplant) vì gan có vấn đề vì chất bổ sung gia tăng từ 1% lên 7% từ năm 1995 đến năm 2020, xem như gấp 7 lần. Trong suốt 25 năm tình cũ với chất bổ sung được tạo ra bán như thuốc tiên, tóc đen, trẻ mãi không già,… collagen và cô la ghen


Gần đây họ báo cáo các người Mỹ dùng chất bổ sung được chở đi cấp cứu có hiện tượng mắt vàng mệt mỏi , đau bụng và lá gan banh ta lông vì uống chất bổ sung. Thậm chí những chất bổ sung được bảo chứng bởi nhà thương nổi tiếng và do bác sĩ kê toa. 


Nhiều chất bổ sung được cho là nguyên nhân như tinh chất trà xanh, thường giúp cho gầy. người Tàu họ có làm loại này, khi xưa mình mua ở tiệm thuốc bắc  uống khiến đi cầu rất nhiều, được vài hôm thì cũng quăng thùng rác hay "chất tăng cường", các chất bổ sung thể hình đôi khi bị nhiễm steroid đồng hóa; và các chất bổ sung dinh dưỡng đa thành phần được sử dụng cho nhiều mục đích, từ kích thích mọc tóc như collagen đến sức khỏe tâm thần.


Năm 2024, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng 15 triệu người Mỹ sử dụng các hợp chất được biết là có độc tính với gan: nghệ, ashwagandha, rễ cây rắn đen, quả nụ, trà xanh và gạo men đỏ. Mấy loại này giờ thấy trên mạng xã hội nhất là ở Việt Nam kêu rao bán bởi các ông các bà tự nhận là  bác sĩ thuốc nam chi đó. Họ cứ phán tì vị bú xua la mua rồi bỏ nhỏ muốn mua thuốc cho đó. Lắm thầy rối ma. 


https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/


Sức khỏe rất cần thiết nhất là khi về già, chúng ta cần bảo vệ sức khỏe nhưng phải nghiên cứu cho kỷ. 


Thay vì nghe ai nói về một thứ thuốc hay phương pháp dưỡng sinh rồi cứ nhắm mắt tin. Người báo cho mình là ai? Một bác sĩ hay một ông thầy thuốc bắc có uy tín. Cứ tin sái cổ rồi rước họa vào người. Nên tìm tài liệu đọc cho kỹ trước khi uống. 


Gần đây mình có đọc tài liệu về các phân tử của chất nhựa từ trong các chai nước mua uống ở chợ rất nguy hiểm vì khi uống sẽ vào cơ thể lâu ngày trở thành đống rác không tiêu hủy được hết gây tổn Thương trong người nên họ khuyến cáo không nên uống trà bọc bằng nhựa. Gần đây thấy nhiều loại trà bọc làm bằng nhựa trong rất lịch sự và đắt tiền nên sợ hết dám mua. 


Trà được biết là họ xịt thuốc sâu như điên, tương tự cà phê mà báo chí cứ cả tụng bú xua la mua, uống vào là giảm thọ. Có ông Tây trồng nho, hỏi tại sao bán cho người Tàu. Ông ta kể là ngày nay sử dụng thuốc sâu quá nhiều khiến ông ta không muốn con cháu mình lãnh đủ nên bán cho người Tàu. 


Nhất là các loại thuốc bổ sung có một lớp bọc bên ngoài là chất nhựa hay gì đó không biết. 


Có anh bạn kể ông cậu chữa bệnh ung thư nghe ai nói dùng baking soda tạo dựng chất Alkaline giúp bảo hòa pH nên cứ uống. Gần đây mình có đọc về baking soda thì họ nói loại mình thấy ở siêu thị rất độc hại. Nên mua loại tốt mà sử dụng. Ông cậu rồi cũng đi Tây phương cực lạc, dù có baking soda này nọ. Không biết ông ta mua loại gì để dùng. (Còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn

Vitamin K và bệnh Tim mạch

  Vitamin K và Tim mạch


Có lần chị bạn gửi cho mình coupon để đi scan cơ thể xem có vấn đề gì không. Kết quả cho thấy có hai vấn đề: có cục bướu ở pancreas và có dấu hiệu có chất vôi trong mạch máu có thể làm nghẽn máu lưu thông khiến mình hoảng tiều đi bác sĩ và mổ lấy cục bứu ra, kết quả khám nghiệm thì bứu lành. Trong khi chờ đợi kết quả thử nghiệm cục bứu mình đọc một lèo 5 cuốn về ung thư trong suốt 2 tuần lễ. Khi kết quả cho thấy bứu lành thì bắt đầu lo đến vụ chất vôi trong mạch máu.


 
Mình mò trên mạng thì khám phá một ông mỹ, hóa học gia kêu bác sĩ cho ông ta 6 tháng để sống vì có dấu hiệu chất vôi đóng đầy ở van tim. Ông ta buồn đời nhưng thấy vẫn còn muốn sống nên nghiên cứu để tự chữa lấy mình vì bác sĩ bó tay chấm còm rồi. Ông ta khám phá ra cơ thể cần sinh tố K2 ngăn chặn sự kết của chất vôi trong huyết quản nên uống sinh tố K2 và được chữa lành đồng thời làm răng ông ta tốt chắc hơn. Mình bắt chước uống sinh tố K2 và từ mấy năm nay có thể leo lên đỉnh Kilimanjaro hay Whitney. 

Mình có kể vụ này, gần đây có nhiều người nhắn tin hỏi mình lại vụ này vì họ có đọc mấy năm trước đây, nay có lẻ lâm vào tình trạng này nên nhắn tin hỏi mình. Gần đây mình đọc thêm những gì ông Mỹ viết tiếp sau khi tự chữa được vụ vôi đóng ở mạch máu gần van tim nên tóm tắc lại đây. 


Có một tiến sĩ giáo sư đại học Cornell có nghiên cứu về người Tàu, gọi là China Study. Họ theo dõi 20 năm người Tàu mỗi vùng thì khám phá ra những vùng ăn rau quả, ăn chay nhiều thì ít bệnh hơn các vùng ăn thịt nhiều. (Thời trước Trung Cộng đổi mới). Một ông bác sĩ mỗ tim khác hình như mình có kể về hai ông này rồi, cũng kêu bệnh nhân ăn chay nhất là Kale vì có sinh tố K.


Mình đọc sách nói về giúp trí nhớ khi về già, thì cần đọc những sách báo khô khan, giúp vận trí não bộ nên mình cố gắng mấy vụ, khó nuốt nhưng để giúp não bộ làm việc nên tóm tắt lại đây.


Trong trang này, chúng tôi trình bày những hiểu biết về các nghiên cứu đã được thực hiện về vitamin K và sức khỏe tim mạch. Bệnh tim mạch ảnh hưởng đến hàng triệu người mỗi năm, và hiện nay có rất ít phương pháp điều trị hiệu quả, hoặc các phương pháp điều trị y tế mang tính chất xâm lấn và phẫu thuật, hoặc các phương pháp điều trị liên quan đến thuốc theo toa thường có tác dụng phụ độc hại. Người ta đã biết rằng các protein phụ thuộc vitamin K2 kích hoạt cơ chế bảo vệ ngăn ngừa sự phát triển của vôi hóa mạch máu (Rees và cộng sự, 2010; Wen và cộng sự, 2018). Ông ta nói đến các tài liệu mà ông ta đọc. Mình chỉ ghi lại nhưng lười đọc các kết quả dẫn chứng nên bác nào tò mò thì tra cứu mà đọc. Đọc bài này đủ oải cho cái đầu nông dân của em. Thêm phải đọc mấy kết quả thử nghiệm là đời em cô đơn luôn.


Nghiên cứu mới về vitamin K và sức khỏe tim mạch rất nhiều và lần đầu tiên, y khoa có thể đảo ngược bệnh tim như trường hợp ông ta. Họ xem xét các xu hướng trong nghiên cứu, những hiểu biết mới về sinh hóa của vitamin K trong cơ thể, hiểu biết về cách thiếu vitamin K góp phần vào quá trình bệnh tim và cách bổ sung vitamin K để phục hồi sức khỏe cho động mạch tim và hệ tim mạch nói chung. 


Bệnh tim mạch là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong ở các nước phương Tây và xơ vữa động mạch là bệnh nền phổ biến nhất. Xơ vữa động mạch là một bệnh trong đó mảng bám hình thành và tích tụ trong thành động mạch. Quá trình bệnh xơ vữa động mạch bắt đầu bằng tổn thương mạch máu. Tổn thương mạch máu có thể là “tổn thương” cơ học, “tổn thương” hóa học hoặc tổn thương do vi khuẩn có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi. Xin nhắc lại ở mọi lứa tuổi. Những “tổn thương” này sau đó dẫn đến tình trạng viêm tiếp theo (các tế bào phát triển ở nơi không nên phát triển) trong động mạch, dẫn đến stress oxy hóa, sau đó là hình thành mảng bám và cuối cùng là vôi hóa tại vị trí đó. Viêm cấp độ thấp đã được chứng minh là có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành xơ vữa động mạch, như nghiên cứu Ross (1999) đã chỉ ra. Đánh giá protein C phản ứng nhạy cảm cao (hs-CRP), một dấu hiệu viêm đã được chứng nhận, là cơ bản trong việc phân loại dân số có nguy cơ mắc CAD thấp, trung bình hoặc cao (Pearson et al, 2003).


Xơ vữa động mạch là bệnh điển hình ở trẻ em dưới 5 tuổi và sau đó biến mất. Lửa Việt nhận đơn xin mỗ tim cho các em tại Việt Nam hàng năm. Nghe nói khi có thai người mẹ ăn uống không có nhiều chất bổ. Xơ vữa động mạch sau đó có thể tái phát sớm nhất là vào thập kỷ thứ hai của cuộc đời và gần như phổ biến trong dân số vào khoảng 65 tuổi (Shanahan và cộng sự, 1998). Sự gia tăng về phạm vi và mức độ nghiêm trọng của tình trạng vôi hóa xảy ra khi tuổi tác tăng lên là do bệnh nhân mang trong mình và sống sót sau tình trạng xơ vữa động mạch đang hoạt động, lan rộng và viêm trong một thời gian dài. Xơ vữa động mạch có thể ảnh hưởng đến bất kỳ động mạch nào trong cơ thể, bao gồm các động mạch ở tim, não, cánh tay, chân, xương chậu, cổ và thận, và xảy ra liên quan đến nhiều loại bệnh khác nhau, bao gồm tiểu đường và urê huyết. Xơ vữa động mạch thường là một bệnh mãn tính, tiến triển chậm và tích tụ (Glass, 2001; Demer & Tintut, 2008).


Mảng bám được tạo thành từ chất béo, cholesterol, canxi và các chất khác có trong máu. Theo thời gian, mảng bám tích tụ và làm hẹp hoặc chặn động mạch của bạn, hạn chế dòng máu giàu oxy đến các cơ quan và các bộ phận khác của cơ thể bạn. Tình trạng này được gọi là thiếu máu cục bộ. Một số mảng bám không biểu hiện triệu chứng lâm sàng và được coi là ổn định trong thời gian dài. Mảng bám ổn định có xu hướng không có triệu chứng và giàu ma trận ngoại bào và tế bào cơ trơn. Các mảng bám khác không ổn định và nghiên cứu đã chỉ ra rằng chúng giàu đại thực bào và tế bào bọt với ma trận ngoại bào yếu và dễ bị vỡ (Davies, 1990; Davies, 1996; Huang và cộng sự, 2001; Finn và cộng sự, 2010), vì nó có thể trở nên giòn và vôi hóa (Aikawa và cộng sự, 2007; Alexopolous & Raggi 2009). Sự vôi hóa làm giảm độ đàn hồi của mạch máu và làm tăng ứng suất cắt tại giao diện giữa các mảng canxi hóa và mô mềm (Wayhs et al, 2002; Spadaro et al., 2000; Keelan et al., 2001; Sangiori 1998; Vliegenthart et al., 2005), hình thành phình động mạch có thể vỡ (Derlin et al. 2011; Vengrenyuk et al., 2008; Rennenberg et al., 2009).


Sự vỡ mạch làm lộ cục máu đông ra ngoài hệ tuần hoàn, làm chậm hoặc ngừng lưu thông máu nhanh chóng, dẫn đến hoại tử các mô được động mạch nuôi dưỡng trong khoảng năm phút. Sự kiện thảm khốc này được gọi là nhồi máu cơ tim. Một trường hợp phổ biến là cục máu đông trong động mạch vành, gây ra nhồi máu cơ tim hoặc đau tim. Quá trình tương tự này trong động mạch não thường được gọi là đột quỵ (Ehara và cộng sự, 2004).


Bệnh tim mạch: Trục mạch máu-xương


Vôi hóa mạch máu trước đây được coi là một quá trình thụ động, không thể tránh khỏi và thoái hóa, dẫn đến các khoáng chất tích tụ trong mạch máu, xảy ra ở giai đoạn cuối của xơ vữa động mạch và được coi là bệnh của người già (Schinke và Karsenty, 2000; Demer và Tintut, 2008). Quan điểm này đã thay đổi và hiện nay người ta hiểu rằng vôi hóa mạch máu là một quá trình phức tạp và được điều hòa tích cực liên quan đến các tế bào mạch máu và một số protein phụ thuộc vitamin K, và có nhiều đặc điểm chung với quá trình tạo xương (Shanahan và cộng sự, 2000; Bostrom, 2000; Campbell và Campbell, 2000; Canfield và cộng sự, 2000; Mody và cộng sự, 2003; Doherty và cộng sự, 2003). Nghiên cứu chỉ ra rằng MGP và osteopontin, cả hai đều là protein liên kết với xương, được biểu hiện nhiều trong các mảng xơ vữa động mạch ở người (Shanahan và cộng sự, 1994; O’Brien và cộng sự, 1995; Shanahan và cộng sự, 1998; Dhore và cộng sự, 2001; Viegas và cộng sự, 2009), với nồng độ MGP cao nhất được tìm thấy ở các vùng giàu lipid của mảng bám.


Nghiên cứu về vôi hóa mạch máu đã gia tăng đáng kể trong thập kỷ qua và các chuỗi tín hiệu phân tử đa dạng và được điều chỉnh cao kiểm soát vôi hóa mạch máu đã được mô tả. Có vẻ như vôi hóa mạch máu là kết quả của sự mất cân bằng giữa các chất thúc đẩy và chất ức chế khoáng hóa trong thành mạch máu, dẫn đến việc tạo ra sự lắng đọng vôi hóa có tổ chức (Willems và cộng sự, 2014). Các tác nhân khởi đầu cơ bản của quá trình vôi hóa mất điều hòa rất đa dạng, từ biểu hiện của các protein liên quan đến xương, đến sự biệt hóa của các tế bào cơ trơn thành các tế bào giống tế bào tạo xương, đến việc giải phóng các thể apoptosis bị phân mảnh và khoáng hóa bởi các tế bào cơ trơn, hoạt động như một vị trí tạo mầm. Điều quan trọng là quá trình này liên quan đến sự tương tác phức tạp giữa các protein phụ thuộc vitamin K, chẳng hạn như MGP, GRP và GAS6 (Tesfamariam, 2019).


Vôi hóa mạch máu có thể được phân loại thành hai phân nhóm riêng biệt tùy thuộc vào vị trí của nó: trong lớp nội mạc hoặc lớp giữa (Van den Bergh và cộng sự, 2019). Vôi hóa nội mạc xảy ra trên bề mặt của các mảng xơ vữa động mạch và biểu hiện gánh nặng mảng bám và hẹp lòng mạch, trong khi vôi hóa giữa liên quan đến lớp cơ và biểu hiện là cứng và giảm độ đàn hồi của mạch máu. Vôi hóa nội mạc chủ yếu được quan sát thấy ở động mạch vành. Vôi hóa giữa thường được quan sát thấy ở các động mạch ngoại vi và ít phổ biến hơn ở bệnh động mạch vành. Nó liên quan đến lão hóa, tiểu đường, tăng huyết áp, loãng xương và bệnh thận mãn tính (Giachelli, 2004). Vôi hóa giữa được mô tả là xơ cứng động mạch, mất tính đàn hồi và cứng (Kamenskiy và cộng sự, 2018). 


Nghiên cứu hiện tại bao gồm các nỗ lực xác định các tương tác phức tạp giữa các chất trung gian tế bào và phân tử của vôi hóa động mạch và vai trò của các chất ức chế vôi hóa nội sinh. (Belovici và Pandele, 2008). Nghiên cứu đã nhấn mạnh rằng các protein phụ thuộc vitamin K đóng vai trò thiết yếu trong quá trình vôi hóa mạch máu (Zak-Golab, 2011). Các phân tử tại chỗ và lưu thông như osteopontin, osteoprogerin, leptin, osteocalcin và protein ma trận Gla được xác định là các chất điều hòa quan trọng của quá trình vôi hóa mạch máu và tất cả chúng đều phụ thuộc vào vitamin K để được kích hoạt và sử dụng (Mazzini, et al, 2006; Luo et al, 2009; Nicoll et al, 2015; Tacey et al, 2018).


Nồng độ vitamin K thấp dẫn đến sản xuất các protein chưa được carboxyl hóa và làm suy yếu hoạt động của các chất ức chế canxi hóa chứa Gla (Lomashvili và cộng sự, 2011). Sự thất bại của quá trình carboxyl hóa dẫn đến một loạt các sự kiện dẫn đến vôi hóa mạch máu hoặc đột quỵ (Wessinger và cộng sự, 2020). Sự giảm các protein carboxyl hóa hoặc giảm tỷ lệ các dạng carboxyl hóa so với các dạng không carboxyl hóa không hoạt động sẽ thúc đẩy quá trình canxi hóa (Tesfamariam, 2019).


Vitamin K cũng có liên quan đến elastin trong hệ thống mạch máu, giúp các tĩnh mạch và động mạch linh hoạt. Các thử nghiệm lâm sàng đang được tiến hành (De Brouwer và cộng sự, 2016; Janssen & Vermeer, 2017; Lindholt và cộng sự, 2018)


Bệnh tim mạch và các protein phụ thuộc vitamin K.


Một số protein phụ thuộc vitamin K (VKDP) đã được xác định là có liên quan đến việc điều hòa quá trình canxi hóa và chuyển hóa canxi mạch máu, bao gồm osteocalcin, protein giàu gla, Gas6 và protein nền Gla (Viegas và cộng sự, 2014; Willem và cộng sự, 2014; Kaesler và cộng sự, 2016). Trong số các protein này, protein nền Gla phụ thuộc vitamin K (MGP) đóng vai trò chủ đạo (Hofbauer và cộng sự, 2007; Schurgers và cộng sự, 2008). Protein ma trận Gla là một protein nhỏ phụ thuộc vitamin K chứa năm gốc axit gamma-carboxyglutamic (Gla) được cho là quan trọng trong việc liên kết các tinh thể canxi Ca (2+) và protein hình thành xương (Srivatsa và cộng sự, 1997; Luo và cộng sự, 1997; Shanahan và cộng sự, 1998; Price và cộng sự, 1985). Protein hình thành xương đề cập đến các protein tạo ra sự hình thành và cấu trúc của xương.


Các protein chứa Gla có các gốc axit glutamic phải được gamma-carboxyl hóa bởi gamma-glutamyl carboxylase phụ thuộc vitamin K, GGCX. Các gốc axit glutamic cụ thể trong protein được xúc tác bởi phản ứng trung gian bởi enzyme để tạo thành axit glutamic biến đổi được gọi là axit γ-carboxyglutamic trong một số protein VKD để cho phép chúng liên kết canxi và hoạt động bình thường và hiệu quả. Phản ứng enzyme này, được gọi là γ-carboxyl hóa, hoặc gamma-carboxyl hóa, cần vitamin K để quá trình carboxyl hóa và chuyển dạng diễn ra. Sự chuyển dạng này là cần thiết để các protein này hoạt động và liên kết với canxi, sau đó cho phép Gla-MGP dồi dào được tìm thấy trong thành động mạch, với sự giảm canxi hóa mạch máu sau đó. Khi MGP liên kết với canxi, nó ức chế quá trình canxi hóa (Jaminon và cộng sự, 2020).


Khi MGP được carboxyl hóa và chuyển dạng thành protein Gla, nó cho phép MGP liên kết với nhân tinh thể trong hydroxyapatite và trao quyền cho MGP liên kết và ức chế BMP-2, một yếu tố tăng trưởng kích thích canxi hóa mạch máu (Wallin và cộng sự, 2000). Sự liên kết này ngăn ngừa sự tích tụ của chúng trong thành động mạch. Đồng thời, MGP tạo ra một phức hợp với BMP-2, ngăn chặn sự liên kết của BMP-2 với thụ thể có ái lực cao của nó và ngăn chặn các tín hiệu hạ lưu dẫn đến canxi hóa mạch máu (Wolinsky, 1970).


Đặc biệt, MGP trải qua quá trình phosphoryl hóa các gốc serine của nó, một quá trình có thể điều chỉnh thêm hoạt động của nó và cũng phụ thuộc vào sự sẵn có của vitamin K (Price và cộng sự, 1994). Serine là một axit amin được sử dụng trong quá trình sinh tổng hợp protein và phosphoryl hóa là cơ chế chính để điều chỉnh hoạt động của protein tế bào. Cả quá trình carboxyl hóa Glu và phosphoryl hóa các gốc serine của MGP đều góp phần vào chức năng của nó như một chất ức chế VC (Schurgers và cộng sự, 2007; lDelanaye và cộng sự, 2014; O’Young và cộng sự, 2011, Rouymeliotis và cộng sự, 2020). Bất kể trạng thái carboxyl hóa, các dạng MGP được phosphoryl hóa và khử phosphoryl hóa đều có ái lực khác nhau đối với liên kết canxi/BMP-2. Do đó, MGP hiện diện trong tuần hoàn ở nhiều trạng thái phosphoryl hóa và carboxyl hóa khác nhau (Cario-Toumaniantz và cộng sự, 2007):

dạng hoạt động của MGP hoặc pcMGP được carboxyl hóa và phosphoryl hóa hoàn toàn–dạng không carboxyl hóa nhưng được phosphoryl hóa (ucMGP hoặc pucMGP)–dạng caboxyl hóa nhưng không được phosphoryl hóa, một phần không hoạt động (dpcMGP)–dạng không carboxyl hóa, khử phosphoryl hóa, hoàn toàn không hoạt động (dpucMGP).


Protein Matrix Gla được biểu hiện chủ yếu bởi các tế bào cơ trơn mạch máu (VSMC là viết tắt của tế bào cơ trơn mạch máu) và bởi các tế bào sụn (tế bào sụn), và là chất ức chế khoáng hóa động mạch quan trọng nhất hiện nay được biết đến. MGP được tổng hợp trong nhiều mô mềm với mức độ biểu hiện cao nhất ở tim, phổi, thận và sụn (Fraser và Price, 1980). Các mô hình động vật cho thấy MGP là chất ức chế mạnh quá trình vôi hóa thành động mạch và sụn, trong khi chuột biến đổi gen không có MGP biểu hiện tình trạng vôi hóa nghiêm trọng và nhanh chóng dẫn đến tử vong sớm do vỡ động mạch chủ tự phát (Luo và cộng sự, 1997; Murshed và cộng sự, 2004). Khi các loài gặm nhấm được bổ sung một liều cao MK7, quá trình vôi hóa bị ức chế. Nhìn chung, MK7 có tác dụng bảo vệ các cấu trúc mạch máu bị tổn thương (Scheiber và cộng sự, 2015). Các bác sĩ đều nói MK7 rất quan trọng nên mình uống thêm loại này.


Các loài MGP trong cả mô và tuần hoàn đã được phát hiện ở quần thể khỏe mạnh và những khác biệt đáng kể đã được tìm thấy ở những bệnh nhân mắc bệnh tim mạch (Cranenburg và cộng sự, 2008; Schurgers và cộng sự, 2005; Jia và cộng sự, 2012; Silaghi và cộng sự, 2016; Wei và cộng sự, 2018). Trong động mạch, MGP hoạt động như một chất ức chế tại chỗ quá trình canxi hóa lớp trung mạc (Price và cộng sự, 1998; Murshed và cộng sự, 2004; Schurgers và cộng sự, 2007; Yao và cộng sự, 2010; Barrett và cộng sự, 2018). Theo một số người, MGP là chất ức chế canxi tự nhiên mạnh nhất được tìm thấy trong cơ thể người (Roumeliotis và cộng sự, 2019) và các dạng của nó có thể là một dấu hiệu có giá trị về sức khỏe vi mạch (Kumric và cộng sự, 2021). Một nghiên cứu đã phát hiện ra rằng nồng độ tMGP trong huyết thanh cao hơn đáng kể ở những bệnh nhân mắc bệnh mạch máu và bệnh xương khớp so với nhóm dân số khỏe mạnh. Và những người tham gia khỏe mạnh dưới 40 tuổi có nồng độ tMGP cao hơn những người trên 40 tuổi. Và ở những người khỏe mạnh, nồng độ tMGP tăng ở những người hút thuốc so với những người không hút thuốc. Nghiên cứu đã thiết lập khoảng tham chiếu cho tMGP là 6-108 ug/L (Silaghi et al, 2019).


Mình đoán là bài này do công ty của ông ta mướn ai viết cho tường tận không thô sơ như mấy năm trước mình đọc. Đọc thì chắc đa số các bác Chán Mớ Đời nhưng nếu chịu khó đọc kỹ thì rất hay. Tóm lại như sau:


* Bệnh tim mạch là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong ở các nước phương Tây.

* Nghiên cứu chỉ ra rằng vôi hóa mạch máu là một quá trình phức tạp và được điều hòa tích cực liên quan đến các protein mô, phụ thuộc vào sự hiện diện của vitamin K.

* Điều này có nghĩa là có thể điều chỉnh hoặc đảo ngược quá trình bệnh bằng cách bổ sung vitamin K. Tử vong sớm không phải là điều không thể tránh khỏi.

* Ngày càng có nhiều nghiên cứu nhấn mạnh những lợi ích sâu sắc của vitamin K đối với sức khỏe tim mạch, bao gồm bảo vệ khỏi bệnh tim, giảm vôi hóa, ức chế sự hình thành vôi hóa và giảm nguy cơ tử vong do bệnh tim.

* Những người dùng thuốc ảnh hưởng đến vitamin K có thể gặp tác dụng phụ là gây ra bệnh tim.

* Một bộ phận đáng kể dân số được phát hiện bị thiếu hụt vitamin K.

* Vitamin K được hấp thụ từ thực phẩm bổ sung nhiều hơn từ thực phẩm.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn