phi trường Changi, viễn kiến lãnh đạo

 Xây phi trường để làm tiền

Khi xưa, người ta rời hay đến một thành phố đều phải đi qua cửa cổng của một thành phố nhưng ngày nay các cửa cổng của thành phố là các nhà ga, hay phi trường. Do đó cái nhìn đầu tiên của phi trường là hình ảnh đại diện cho một thành phố, quốc gia. Là biểu tượng cho quốc gia cũng như là cái máy làm tiền cho một thành phố. Do đó ngày nay, các quốc gia nhỏ bé đều đua nhau cạnh tranh để các công ty hàng không quá cảnh với các chương trình mướn bãi đáp rẻ để câu hành khách dừng lại để họ bán hàng miễn thuế Duty Free như Dubai, Doha,… quá cảnh thường mất từ 3 đến 8 tiếng đồng hồ nên hành khách có thể ăn uống, tắm rửa, mua sắm Duty Free,


Ai đi du lịch ở á châu mà ghé phi trường Changi của Tân Gia ba, đều cảm thấy đẹp và xa hoa. Phi trường này được xem là phi trường đẹp nhất thế giới không phải khơi khơi mà có chủ đích từ nhà lãnh đạo Lý Quang Diệu. Tân Gia Ba là một quốc gia có đâu 4.2 triệu người dân và 1.9 triệu ngoại kiều mà có phi trường đón trên 68 triệu hành khách quốc tế mỗi năm. Tin tức cho biết phi trường Nội Bài năm 2024 có đến 16 triệu du khách quốc tế ghé qua, kể cả Việt kiều về thăm quê hương.

Theo báo Lao động Việt Nam thì “Trong số 250 sân bay được xếp hạng năm nay, sân bay Tân Sơn Nhất đứng thứ 248 với tổng điểm 6,21. Trong đó, hành khách quốc tế chấm điểm độ đúng giờ đạt 6,1; đánh giá từ hành khách đạt 6,6 và dịch vụ ẩm thực - mua sắm được chấm 6,1.

Sân bay Nội Bài xếp hạng 242 với tổng điểm 6,71, bao gồm 6,4 điểm đúng giờ; 7,2 điểm từ hành khách và 7,1 điểm cho khu vực ẩm thực - mua sắm.” Ở hải quan phải đợi 2 tiếng đồng hồ như kỳ đầu năm nay mình ghé về Hà Nội. Sau khi bay mất 24 tiếng đồng hồ quá cảnh tại Phi Luật Tân, về đến Nội Bài lại phải đợi thêm 2 tiếng đồng hồ ở hải quan. Tưởng tết ai ngờ nay vẫn tiếp tục. Mình đọc trên mạng du khách quốc tế chửi thề quá khiến làm giảm bớt số lượng du khách muốn viếng thăm Việt Nam.


Phi trường Nội Bài được làm lại khá hơn lần đầu tiên mình đến năm 1995 nhưng so với các phi trường quốc tế ở Á châu thì như một phi trường tỉnh lẻ đâu đó trên thế giới. Khá hơn phi trường ở Uzbekistan nhưng thua phi trường ở Tajikistan, Kazachstan, Kyrgyzstan. Vào Việt Nam hay ra phải qua hải quan lâu lắc nên nghĩ đi ra đi vô phải đứng mỗi bận 2 tiếng là nản.


Phi trường Changi được xem là đứng thứ 15 phi trường bận nhất thế giới, có đến trên 100 công ty hành không hạ cánh tại đây và nối kết 170 thành phố trên thế giới. Phi trường này cung ứng độ 13 tỷ đô la cho nền kinh tế Tân Gia Ba hàng năm và có 119,000 công ăn việc làm cho dân cư của một thành phố nhỏ. Người ta gọi phi trường Changi là con đường đưa đến sự thịnh vượng của Tân Gia Ba. Phi trường đang xây dựng thêm Terminal thứ 5, có khả năng chứa hành khách lên 50% vào năm 2030 xem như 4 năm nữa. Có ước tính là gia tăng gấp đôi các chuyến bay thường nhật trong 2 thập kỷ tới. 


Xem trên mạng thì 22 phi trường tại Việt Nam kể cả Nội Bài có lợi tức năm 2024 là $866.4 triệu mỹ kim, tỏng khi Tân Gia Ba chỉ có một phi trường mà lợi tức gấp 15 lần cả Việt Nam.

  • Airports Corporation of Vietnam (ACV), the national operator of 22 airports including Noi Bai, reported a total revenue of VND21.466 trillion (approximately $866.4 million USD) for 2024 and a target of VND21.782 trillion for 2025.

Được biết là phi trường Tân Sơn Nhất trước 75 là phi trường bận và có nhiều chuyến bay nhất á châu vì máy bay cất cánh và đáp cho nhu cầu chiến tranh. Năm 1975, Tân Gia Ba có phi trường quốc tế tên Py Labar, có một phi đạo gần trung tâm thành phố. Năm 1970, phi trường này tiếp nhận hàng năm 1.7 triệu hành khách rồi 5 năm sau con số gia tăng lên 4 triệu hành khách. Do đó chính phủ muốn nới thêm phi trường. Họ bỏ ra 800 triệu tiền Singapore để mua đất xung quanh và dời các gia đình xung quanh khu vực. Ở Los Angeles, họ đang làm thêm phi trường để tiếp đón thế vận hội 2028.


Công việc đang tiến hành thì ông Lý Quang Diệu đổi ý, không muốn nới phi trường Py Labar mà xây một phi trường mới. Lý do ông ta viếng Hoa Kỳ và có đáp xuống phi trường Logan ở Boston. Phi trường này nằm ngay biển và dùng đất bồi thêm ra biển. Ông ta nghĩ trong tương lai nếu phi trường cần nới rộng ra thì cứ bồi đất ra biển thay vì cho máy bay đáp xuống trong khu dân cư như phi trường Narita ở Nhật Bản. Phi trường Changi dùng căn cứ không quân của Anh quốc cũ. Dời nghĩa trang và các làng đánh cá này nọ. Chi phí độ 1.5 tỷ đô la Singapore. Rất đắt tiền nhưng gặp ông độc tài này với viễn kiến 50 năm tới cho quốc gia nên ai nấy đều phải nghe lời.


Ý định của ông Lý Quang Diệu là xây phi trường Changi to gấp 5 lần phi trường cũ, nhất là có thể nới rộng thêm trong tương lai. Ông Lý Quang diệu muốn phi trường là một phi trường có vườn. Nếu chúng ta đến phi trường Atlanta, được xem là đông hành khách nhất Hoa Kỳ. Hành khách đến , đổi máy bay rồi đi luôn trong khi phi trường Changi, có ý tưởng là hạ giá mướn bãi đáp cho các công ty hàng không khiến có nhiều công ty sử dụng phi trường này vô hình trung biến phi trường này trở thành trạm dừng trên con đường từ á châu sang âu châu hay úc châu. Nếu ai ghé Hán Thành thường có chiêu quá cảnh mất 8-9 đồng hồ nên họ có xe đưa du khách ra thành phố để mua sắm này nọ tương tự phi trường mới ở Istambul cũng có khiến mãi như vậy. Xuống Nội Bài, du khách muốn ra viếng Hà Nội mà phải đợi 2 tiếng qua cửa khẩu và 2 tiếng để vô lại là ngọng.

Năm 1981, phi trường này được khánh thành, tiếp nhận được 10 triệu hành khách năm đầu tiên và được xem là phi trường lớn nhất á châu. Ngày nay ai cũng xem ông Lý Quang Diệu là một nhà lãnh đạo đại tài khi có viễn kiến. Vì nếu tiếp tục nới rộng phi trường cũ thì ngày nay kẹt cứng không thể nào phát triển như bây giờ. Nay họ đang xây thêm phi đạo thứ 5.


Thông thường 40% kinh tế của phi trường là cho mướn bãi đậu máy bay, bán xăng nhớt, thuế hành khách còn lại là các dịch vụ khách như thức ăn, duty-free shop, bãi đậu xe, khách sạn,… nếu hành khách ngừng lại mua cái ví Gucci hay uống cà phê $8 hay cái bánh mì $15, thì phi trường kiếm tiền nhiều hơn cho một chiếc máy bay Boeing 747 đậu vài tiếng.


Do đó Changi cố gắng xây dựng một môi trường nơi các hành khách muốn tiêu tiền và ở lại chơi. Lợi tức của phi trường từ các tiệm bán hàng gia tăng từ 537 triệu Singapore đô năm 2009 lên 1.17 triệu nằm 2019, xem như 10 năm tình cũ. Hơn gấp đôi tiền cho máy bay đáp. Nói chung Changi là cửa tiệm, trung tâm mua sắm đem lại lợi nhuận nhiều nhất cho Tân Gia ba. Tiền họ thu từ hành khách mua sắm, ăn uống thì tiền đáp máy bay càng rẻ nên có thể cạnh tranh các phi trường quốc tế khác. Phi trường Dubai cũng như Doha đang tìm cách thu hoạch như Changi.


Phi trường có trên 400 cửa tiệm sang trọng. Có rất nhiều tiệm Gucci, Prada,..thêm vườn bướm. Họ hỏi hành khách thì được biết lý do họ muốn ngừng tại đây vì không gian rất dễ thương. Thêm giá cả có thể rẻ hơn cả ở các cửa tiệm trung tâm thành phố. Họ có hồ tắm cho hành khách ngưng lại lâu để tắm hay phòng ngủ. ở Dubai, Doha thì có chỗ cho hành khách ngủ vài tiếng hay tắm rữa. Họ có chỗ xem xi-nê miễn phí 24/7. Họ có làm thác nước cao 40 mét. Duty Free được quảng bá giúp thêm lợi nhuận cho phi trường. Ngoài ra, các phi cơ chở hàng hoá như FedEx cũng đáp xuống đây như hạ tầng cơ sở được thiết lập tại đây tốt giúp họ xăng nhớt .


Khi mình nghe Việt Nam xây phi trường Long Thành thì mình nghĩ đã đến thời điểm Việt Nam cần một phi trường quốc tế đúng với tầm thế kỷ 21 nhưng khi đọc tin tức của đồ án thì chỉ biết Chán Mớ Đời. Phi trường được phỏng theo phi trường ở Bắc Kinh do công ty kiến Norman Foster thiết kế mà mình có thời làm việc ở London. Đi khắp nơi, thấy phi trường thế giới như Doha, Thổ Nhĩ Kỳ, Dubai, Changi, Narita, Hán Thành thì mình cảm thấy buồn cho Việt Nam. Khó mà có một nhà lãnh đạo như ông lý Quang Diệu. Ông này có ông cố hay ông nội từng sinh sống tại Việt Nam trước khi bị đuổi chạy qua Tân gia Ba. Có thời ông ta làm cố vấn cho sự phát triển Việt Nam nhưng mộng ông ta không thành. Rất tiếc lãnh đạo Việt Nam không nghe ông ta.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Cuộc chiến tranh lạnh thế kỷ 21 Hoa Kỳ-Trung Cộng

 Tóm tắc cuốn sách  “Bienvenue en économie de guerre” của David Baverez

Hôm qua tình cờ xem cuộc phỏng vấn trên đài Lệ Figaro với ông David Baverez, một nhà đầu tư Pháp ở Hương Cảng, tốt nghiệp luật tại Pháp. Thấy ông ta nói sơ sơ về hiện tình của âu châu giúp mình giác ngộ phần nào khi về âu châu 1 tháng, nói chuyện bạn bè và xem truyền hình của pháp và Ý Đại Lợi. Các nước này như đang trong tình trạng lấn cấn chưa biết đi đường nào thêm người già về hưu quá đông khiến ngân sách quốc gia quá eo hẹp. Pháp quốc có đến 5 chính phủ trong vòng 2 năm qua, hôm trước thấy quốc hội pháp không thông qua ngân sách vì tiền đánh thuế tối đa được 18 tỷ mà tiền chi ra lên trên 30 tỷ. Thế là ngọng.


Ông ta phang một câu là Đức quốc sẽ cướp tiền (pillera) của người Pháp qua công khố phiếu. Bà thủ tướng Nhật Bản mới lên đã phá vụ công khố phiếu nên tiền Yen xuống như diều phải mưa. Chắc năm sau ráng đi Nhật Bản thêm một lần nữa vì giá rẻ. Buồn đời mình kiếm cuốn sách của ông ta đọc “Bienvenue en économie de guerre”. Em xin tóm tắc lại đây để hiểu chút tình hình thay vì bắt chước thiên hạ chửi loạn cào cào.


Trong cuốn sách xuất bản tháng 5 năm 2024, ông David Baverez khẳng định rằng thế giới đã bước vào một kỷ nguyên mới mà ông ta gọi nền kinh tế thời chiến. “économie de guerre”. Theo ông, năm 2022 đánh dấu một bước ngoặt lịch sử quan trọng, giống như các năm 1914, 1945 hay 1989. Sự chuyển đổi này chấm dứt hơn ba thập kỷ của nền kinh tế thời bình dựa trên toàn cầu hoá và hợp tác mà ông ta gọi “trente ans glorieux” mà người Mỹ cũng như người âu châu ăn trên xương máu của người Tàu và các xứ khác khi họ chuyển đổi nơi sản xuất qua các xứ này để tránh sự tàn phá môi trường. người Mỹ cũng như người âu châu như bị nghiện sống vui vẻ, đi chơi, nghỉ hè, làm 35 tiếng một tuần.


Đùng một cái, Covid xảy ra khiến các chuỗi cung ứng bị gián đoạn, người Mỹ và âu châu tĩnh mộng, than trời tỏng khi đó các anh ba tàu cười há há, không có tụi tao chúng mày chết. Các nước âu châu và Hoa Kỳ chới với đang tìm cách làm chủ lại tình hình kinh tế nhưng có lẻ đã quá muộn.


Sự kết thúc của nền kinh tế thời bình (1989–2022): Trong hơn 30 năm sau khi Bức tường Berlin sụp đổ, phương Tây sống trong một môi trường kinh tế lý tưởng: tự do thương mại, chuỗi cung ứng toàn cầu trơn tru, niềm tin giữa các quốc gia, thị trường giữ vai trò quan trọng hơn địa chính trị.

Nền tảng của thời kỳ này là sự phụ thuộc lẫn nhau: càng thương mại, càng ít xung đột. Theo ông tây Baverez, mô hình này giờ đã sụp đổ.


Năm 2022: khởi đầu của sự bất ổn toàn cầu. Hai sự kiện lớn đã chấm dứt nền kinh tế thời bình: Chiến tranh Nga–Ukraine. Cuộc chiến đưa xung đột trở lại châu Âu, gây khủng hoảng năng lượng, lạm phát và bất ổn chiến lược. Ngày nay  chúng ta khám phá ra các nước âu châu đều mua khí đốt và dầu hoả của Nga cho nên cấm vận bú xua la mua nhưng anh Puchin vẫn vui vẻ lên đài truyền kêu gọi mấy anh tây ăn caviar, uống vodska.


Thêm Đại hội XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Tập Cận Bình củng cố quyền lực tuyệt đối và đẩy Trung Quốc theo hướng kiểm soát chặt chẽ, ít cởi mở hơn. Mình xin mở dấu ngoặc ở đây vì mình có theo dõi vài nhân vật người Tàu chống Trung Cộng ở Hoa Kỳ và đài Loan. Mấy người này thì mạnh miệng kêu Tập thị hết thời này nọ. Có thể họ chỉ là công cụ tuyên truyền của Hoa Kỳ hay Trung Cộng để ru ngủ lòng dân Hoa Kỳ.


Ông họ Tập này khơi khơi kêu sẽ đánh chiếm Đài Loan này nọ, rồi bà thủ tướng Nhật Bản mới lên ngôi đã đe doạ Trung Cộng không được đụng tới người em gái sầu mộng Đài Loan của mình.Kết quả: ngày nay địa chính trị quay lại làm yếu tố quyết định trong kinh tế. Trung Cộng với chương trình Vành Đai và Con Đường mà mình có dịp hiển thị tại các xứ Liên Xô cũ như Tajikistan, Uzbekistan, Kazakhstan , Kyrgyzstan , Georgia,… hay ở Phi CHâu như Tanzania, Ai Cập, Jordan,…


Bây giờ mình mới hiểu lý do bộ quốc phòng Hoa Kỳ được cải danh thành bộ chiến tranh. Cho thấy thời đại chiến tranh kinh tế đã đến rồi. Hoa Kỳ tìm cách chận Venezuala bán dầu cho Trung Cộng nhân danh đánh chìm các tàu chở ma tuý. Xin nhắc lại là mấy ông ba tàu san xuất fentanyl để đưa vào Hoa Kỳ. Cũng như trước đây khi Hoa Kỳ chiếm đông Á Phủ Hãn đã kêu người dân sở tại bỏ rau cãi trồng thuốc phiện để đưa các nước như Nga và Trung Cộng. 


Nền kinh tế thời chiến: khung vận hành mới: Trong kỷ nguyên mới này, bốn cơ chế thay thế các quy tắc trước đây: Ngờ vực thay thế sự tin tưởng: các quốc gia bảo vệ chuỗi cung ứng sống còn. Pháp lý trở nên bất ổn: trừng phạt, hạn chế công nghệ, kiểm soát xuất khẩu. Cứ thấy ông Trump ký sắc lệnh trừng phạt hay thu lại luật lệ trước đây. Xung đột trở thành cách điều chỉnh quan hệ quốc tế: cạnh tranh Mỹ–Trung, chiến tranh năng lượng, cạnh tranh công nghệ. Và sự phụ thuộc trở thành vũ khí: khí đốt Nga, đất hiếm Trung Quốc, chip Đài Loan. Trung Cộng vừa ra lệnh cấm bán đất hiếm là thấy ông Trump xuống nước ngay. Nhưng chỉ để câu giờ trước khi có thể khai thác đất hiếm ở Hoa Kỳ cũng như các xứ khác. Nguy hiểm nhất là ngày nay thế giới không còn được điều hành bởi thị trường, mà bởi sức mạnh.


Ông Baverez đề nghị diễn giải lại ESG (Énergie – Sécurité – Guerre). Theo ông, ưu tiên thật sự của các quốc gia phải là: Năng lượng: nền tảng của chủ quyền. An ninh: hạ tầng, dữ liệu, lương thực, vận tải. Chiến tranh: chuẩn bị cho xung đột quân sự, mạng và công nghiệp. Đây là khung phân tích realist nhất theo ông.


Đây là phần được tác giả cảnh báo mạnh mẽ nhất. Châu Âu đang phụ thuộc vào ba yếu tố:

Năng lượng: khí Nga, dầu Trung Đông. Ngày nay về âu châu thấy thiên hạ cứ chống đi xe hơi này nọ trong khi đó không có dầu hoả, thậm chí cũng chống sử dụng năng lượng nguyên tử. Mình đọc báo đức thì thấy họ phỏng vấn thanh niên đức, mấy người này trả lời thà bị Nga xâm chiếm, đô hộ còn hơn đánh nhau ra mặt trận. 

Công nghiệp: sản xuất tại Trung Quốc. Cái gì cũng made in China, tước đây anh cứ để mấy anh ba tàu sản xuất bán rẻ cho anh tây bà đầm xài. Bây giờ thì tá hoả tam tinh vì khơi khơi anh ba tàu có thể ngưng bán cung cấp đồ phụ tùng này nọ là ngọng. Họ nói đưa qua Việt Nam hay các nước khác nhưng quá trễ thêm qua Việt Nam thì cũng như ở Trung Cộng vì đa số công xưởng ở Việt Nam được làm việc đàng hoàng là có cái dù che của Trung Cộng nên không bị công an hỏi han.

Quân sự: bảo vệ chủ yếu dựa vào Hoa Kỳ. Cứ dựa vào NATO canh gác cho mình ngủ như CUba và Việt Nam canh gác cho thế giới đại đồng ngủ bình yên. Bao nhiêu lính mỹ đóng tại âu châu. Nay anh mỹ ngang xương kêu không trả tiền nữa. Thế là ngọng.


Ông Baverez thậm chí dùng khái niệm “Yemen hoá châu Âu”: châu Âu có nguy cơ trở thành chiến trường giữa các siêu cường. Chúng ta thấy qua vụ tiếp tế cho Ukraina, có sự sức mẻ khi Hung Gia Lợi, và vài nước khác vì lợi ích của xứ họ nên không muốn tiếp tục đóng góp.


Lạm phát kéo dài và sự kết thúc của “just-in-time”. Từ covid đến giờ lạm phát Hoa Kỳ lên như điên, ăn tô phở bây giờ hết dám ăn vì gần $20. Theo ông Baverez, lạm phát hiện nay mang tính cơ cấu, không còn tạm thời: lý do là tài nguyên khan hiếm, chuỗi cung ứng phân mảnh, chi phí an ninh năng lượng tăng, xu hướng tái công nghiệp hoá. Do đó, mô hình “just-in-time” phải nhường chỗ cho “just-in-case”, dự trữ và bảo đảm an toàn chiến lược.


Châu Âu cần làm gì? Ông Baverez đưa ra nhiều giải pháp:

Tái công nghiệp hoá các lĩnh vực then chốt: năng lượng, quốc phòng, chip, dược phẩm.

Xây dựng chiến lược chung giữa 27 nước.

Tạo liên minh giữa địa chính trị – kinh tế – doanh nghiệp.

Đầu tư mạnh vào quốc phòng và an ninh mạng.

Điều quan trọng nhất là xây dựng tự chủ chiến lược.


Đọc cuốn sách của ông tây này giúp em hiểu rõ thêm lý do họ muốn chiến tranh Ukraina kéo dài. Để âu châu có thời gian tái cấu trúc lại kỹ nghệ hoá của họ vì nhân danh bảo vệ môi trường này nọ. Cũng như Hoa Kỳ dẹp qua một bên. Thật ra đọc tài liệu của Trung Cộng thì thấy họ tiến mạnh về trí tuệ nhân tạo. Thấy mấy ông thần ả rập đầu tư vào Hoa Kỳ rất nhiều tiền, nay mình mới bắt đầu hiểu sự việc cho cuộc chiến tranh lạnh giữa Hoa Kỳ-Trung Cộng.


Sang năm mình sẽ đi Trung Cộng lại để xem sau 18 năm xứ này tiến xa như thế nào vì nghe thân hữu đi về kể chuyện thấy hấp dẫn. Mình có đọc báo Trung Cộng nhưng muốn xem tận mắt thay vì ngồi đọc tin tức tuyên trườn của mỹ và âu châu rồi kết luận theo sự tuyên truyền. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn

khôi phục lại cuộc sống của con người

 Chiến Tranh và Hoà Bình


Dạo này dân cư mạng ồn ào trên các mạng xã hội. Người nguyền rủa Hoa Kỳ bán đứng Ukraine như Việt Nam Cộng Hoà, Á-Phú-Hãn, các đồng minh. Người thì hoan hô, kêu cuộc chiến không phải của người Mỹ hay người Pháp. Bên pháp số chống đối tổng thống Macron thì kêu ông Macron hân hoan tuyên bố sẽ cung cấp 100 chiến đấu cơ Rafale cho Ukraina trong vòng 10 năm nữa, khiến cổ phiếu công ty chế tạo máy bay này tăng vọt lên 10% trong khi ngân quỹ không được quốc hội duyệt phê. Họ kêu thu thuế được 18 tỷ mà phải xài đâu 30 tỷ (không nhớ số chính xác, chỉ lướt qua). Dân tình kêu tiền đâu, bán cho Ukraine, họ hết tiền, hết người để đánh. Chết rất nhiều. Mình theo dõi bên ủng hộ Ukraina, bên ủng hô Puchin thì cả hai bên chết rất nhiều và đào ngủ cả hai bên cũng nhiều. Mình thích đọc tài liệu của hai bên để có một nhận định riêng ít bị tuyên truyền.


Khi xưa, còn bé mình nghe đài Sàigòn buổi chiều kêu Việt Cộng bỏ lại mặt trận 120 xác chết, và bao nhiêu bị thương, phe ta vô sự rồi buồn đời tối mình mở đài Hà Nội ra nghe thì cũng cùng trận đánh, phe ta diệt 400 tên lính nguỵ,… cho nên mình thất kinh từ đó, không bao giờ tin vào một tin tức.

Trên tờ Foreign Affairs, có đăng vụ phụ nữ Nga hối hả lấy chồng, đối tượng là những chàng trai sắp sửa được đưa ra lò nghiến thịt. Lý do là những người tử trận được tiền tử đền bù khá nhiều và có thể được trả lương cả đời nhằm khuyến khích họ ra đi. Họ sẽ hát ngày thành hôn tôi bận đồ hành quân …. Cho thấy người Nga vẫn vui khi có chiến tranh vì được lãnh tiền vì chiến tranh.


Mình thích sự trào phúng của người Pháp vì có nhiều người đưa thí dụ như: hội phụ huynh muốn gây quỹ nên mua bột mì, đường bú xua la mua rồi bỏ công làm bánh này nọ, sau đó đem bán rồi cúng hết tiền cho chương trình. Chính phủ Macron nói bán 100 chiến đấu cơ Rafale nhưng Ukraine không có tiền thì xem như cho không. Tạo công ăn việc làm và làm giàu cho công ty chế tạo Rafale, đã giúp ông ta lên ngôi tổng thống. Cũng có thể chỉ nói cho vui làm trò để lấy tinh thần cho lính Ukraina tiếp tục đánh. Nghe phía bên Puchin thì cũng muốn đàm phán. Cần giữ đất vì nếu không thì dân nga sẽ thịt ông ta.


Sáng nay , lại nghe Hung Gia Lợi kêu được Hoa Kỳ cho phép mua dầu khí rẻ của Nga và sẽ chia cho Serbia. Mấy ông tây bà đầm ở Âu Châu hô hào đánh cho Puchin bay đầu nhưng lại mua dầu khí rẻ của Puchin thì làm sao cấm vận được. Họ được mua dầu khí rẻ thì càng tốt.


Nhớ khi xưa, học lịch sử Hoa Kỳ, sau khi Hitler tự tử, nay lại nghe tin tức ở Á Căn Đình cho rằng ông này đã chạy sang Á Căn Đình sống đến chết. Quân đội đồng minh chiến thắng thì có chương trình MArshall nhằm tái thiết Tây Âu lại. Cứ tưởng tượng đang đứng giữa trung tâm một thành phố châu Âu năm 1945. Không có tiếng xe cộ. Không có tiếng rao buôn bán. Chỉ có mùi khói, những bức tường cháy xém, và tiếng bước chân nặng nhọc của những con người đang cố gắng sống sót sau một cơn ác mộng kéo dài sáu năm. Những cây cầu gãy đôi, những trường học chỉ còn là đống gạch. Những nhà máy không còn máy móc và tệ hơn tất cả: không còn hy vọng. Có thể nói là tuyệt vọng.


Hình ảnh này mình đã nhìn thấy năm Mậu Thân, khi lên phụ gia đình dì Ba Ca, xây lại căn nhà, dấu vết bom napalm vẫn đầy , nghẹt mùi cháy của bom phosphore. Hình ảnh dượng Ba Ca đứng nhìn căn nhà gỗ đã tương. Dượng và mấy người con trai mỗi ngày làm hắc-lô để xây lại. Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà đã tài trợ một số tiền. Hình ảnh hoang tàn của chiến tranh khiến mình hoảng sợ, chả muốn đánh nhau, tham dự cuộc chiến.

Hình ảnh mình đã thấy ở Số 4 sau khi Việt Cộng rút lui và trận mưa bom napalm mà từ khu vực nhà mình đứng thấy rõ các cuộc oanh tạc. Lúc đầu thấy máy bay bà già bay vòng vòng rồi nghe cái tạch, rồi thấy đạn khói bay xuống đất khói bay lên rồi vài phút sau là khu trục cơ bay đến thả bom. Dạo đó chưa học hyperbol nhưng sau này lớn lên học là hiểu liền nhờ chứng kiến thật khi xưa. 


Trong bối cảnh Tây Âu thời hậu chiến, xuất hiện một nhân vật, dáng khắc khổ, ít khi cười, nói chuyện thẳng nhưng rất chậm rãi, không ồn ào phô trương. Tên của ông là George Catlett Marshall. Trong chiến tranh, ông từng quản lý hơn tám triệu binh sĩ, nhiều hơn cả lực lượng của Mỹ ngày nay.

Ông góp phần định hình chiến lược đánh bại phe Trục. Tướng Eisenhower, cựu tổng thống Hoa Kỳ từng nói:“Marshall là người đàn ông vĩ đại nhất tôi từng gặp.”


Nhưng điều khiến ông Marshall trở nên một tướng lãnh độc nhất, không phải là khả năng chỉ huy chiến tranh mà là khả năng nhìn thấy hòa bình khi thế giới chỉ thấy tro tàn. Tương tự ngày nay, dân cư mạng cứ hô hào Ukraine phải đánh tới người dân cuối cùng. Mình xem biểu đồ ngân sách của âu châu và Hoa Kỳ viện trợ cho Ukraine từ khi cuộc chiến khởi đầu thì thất kinh, người Mỹ đóng góp rất nhiều mà nay âu châu kêu gọi đóng góp thêm khiến người Pháp kêu trời. Tiền đâu ra. Lúc đầu mình tưởng chỉ có Hoa Kỳ nay khám phá ra âu châu cũng banh ta lông.


Ông Trump lên kêu không cung cấp viện trợ nữa thế là ngọng. Mình nghe nói nhưng chưa có tin chính thức là chính quyền Ukraina cũng tham nhũng lắm. Đồ viện trợ qua tay chính phủ Ukraina rồi trở lại các tay khác ở Âu châu và Hoa Kỳ. 


Trong một buổi điều trần tại thượng viện, tướng George C. Marshall ngồi im lặng trong khi các thượng nghị sĩ tranh luận, giọng nói của họ vang lên khi họ cố gắng biến chiến thắng khó nhọc của Thế chiến II thành sự trả thù. Đó là năm 1947, và châu Âu đã tan vỡ. Các thành phố nằm trong đống đổ nát, người dân chết đói, và trật tự chính trị từng gắn kết lục địa này đang sụp đổ. Toàn bộ các quốc gia đứng bên bờ vực hỗn loạn. Các người dân địa phương trả thù nhau vì tội làm pháp gian, đức gian, ý gian,… các phụ nữ có sinh hoạt với đức quốc xã trong thời chiến tranh, bị cạo đầu, bôi nhọ, chửi bới. Thêm Stalin cắt đất, khiến nhiều dân tộc phải rời bỏ chốn chôn nhau cắt rốn đi về một xứ nào đó họ chưa bao giờ biết. Như trường hợp bà Inge, sinh ra trong vùng đất ở Ba Lan, sau đệ nhị thế chiến bị tống cổ về Đức quốc. Phải học tiếng đức vì được xem là người đức thay vì Ba Lan như xưa.


Hoa Kỳ đã có thể quay lưng. Họ có thể tuyên bố chiến thắng của mình và bỏ mặc châu Âu chịu đau khổ. Nhiều người trong Quốc hội mong muốn điều đó. Nhưng George Catlett Marshall, hiện là Ngoại trưởng, lại có một tầm nhìn khác. Ông đề nghị một điều mà ít ai có thể tưởng tượng được: tái thiết chính những quốc gia mà nước Mỹ đã chiến đấu chỉ hai năm trước đó như Đức quốc và Nhật Bản thêm Ý Đại Lợi. Nhờ đó có thể giúp Hoa Kỳ khôi phục các xưởng sản xuất, tái thiết sau thế chiến thứ 2.


Ngày 5 tháng 6 năm 1947, ông đứng trên bục giảng tại Đại học Harvard, đọc bài diễn văn tốt nghiệp chỉ kéo dài chưa đầy mười phút. Không có những khoảng lặng kịch tính như mình học ở hội Toastmasters hay những lời kêu gọi cảm xúc, không có những lời hoa mỹ để nhận được tràng pháo tay. Thay vào đó, Marshall nói một cách thẳng thắn, thực tế về sự tàn phá ở châu Âu và trách nhiệm của những người đã thoát khỏi nó. “Chính sách của chúng ta không nhằm vào bất kỳ quốc gia hay học thuyết nào,” ông nói, “mà là chống lại nạn đói, nghèo đói, tuyệt vọng và hỗn loạn.” Ai buồn đời thì nghe bài diễn văn của ông ta:

https://youtu.be/dg9_GqXa770?si=Xc6IxauqhZcY-PX3


Đằng sau những lời lẽ bình tĩnh ấy là một người đàn ông đã chứng kiến ​​chiến tranh sâu sắc hơn bất kỳ ai. Với tư cách là Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Marshall đã chỉ huy lực lượng quân sự lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, hơn tám triệu quân dưới quyền. Ông đã giám sát mọi hoạt động, mọi kế hoạch, mọi cuộc di chuyển từ Bắc Phi đến Normandy. Tuy nhiên, ông chưa bao giờ tìm kiếm sự chú ý. Nếu ai có dịp đi viếng vùng Normandie, nên ghé lại các nghĩa địa chôn lính mỹ chết khi được gửi sang âu châu. Nghĩa trang Biên Hoà của lính Việt Nam Cộng Hoà không bằng những nghĩa trang quân đội Hoa Kỳ tại vùng này. Lính chết nhiều khi đổ bộ xuống bờ biển Normandie. Khi viếng những nghĩa trang này, thì không ai có khả năng hô hào chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, toàn là lính trẻ không. Mình ghé lại nghĩa trang quân đội Việt Nam Cộng Hoà, ở Biên Hoà, thấy toàn là lính chết ở tuổi 19, 20. Ukraina hay Nga, đều có những người mẹ, hay vợ khóc khi được tin con hay chồng hy sinh cho cuộc chiến vô nghĩa.


Như ông thượng tá mình gặp, chủ một tiệm ăn ở Vịnh Hạ Long. Ông ta than bỏ cả tuổi trẻ vào nam đánh mỹ cút nguỵ nhào, nay về quê mở tiệm ăn, phải phục vụ bọn đế quốc du khách mỹ và nguỵ quân nguỵ quyền như anh. Chán Mớ Đời 


Khi Tổng thống Roosevelt đề nghị ông cơ hội lãnh đạo cuộc đổ bộ của quân Đồng minh vào châu Âu, Marshall đã từ chối, chỉ nói: “Tổng thống phải quyết định nơi nào tôi hữu ích nhất.” Ông hiểu tầm quan trọng của sự lãnh đạo, nhưng ông cũng biết khi nào nên để người khác chỉ huy. Roosevelt đã chọn Eisenhower cho Ngày D, và Marshall ủng hộ quyết định này mà không hề phàn nàn. 


Giờ đây, khi sự tàn phá của chiến tranh lan rộng từ chiến trường đến sinh mạng của hàng triệu thường dân, ông Marshall nhận thấy rằng việc giành lại hòa bình sẽ đòi hỏi cùng một kỷ luật và sự hy sinh đã giúp giành chiến thắng trong chiến tranh. Ông đề nghị một chương trình mà sau này được gọi là Kế hoạch Marshall là một nỗ lực to lớn để tái thiết Tây Âu, không phải thông qua chiếm đóng hay trừng phạt, mà thông qua viện trợ. Kế hoạch này sẽ tiêu tốn 13 tỷ đô la, một số tiền tương đương hơn 170 tỷ đô la theo giá trị hiện đại.


Kế hoạch này kêu gọi thực phẩm, máy móc và chuyên môn của Mỹ đổ vào các nền kinh tế đang bị tàn phá của châu Âu. Kế hoạch này sẽ giúp xây dựng lại các nhà máy, khôi phục nông trại và ổn định chính phủ. Nó cũng sẽ gắn kết tương lai của châu Âu với Hoa Kỳ, tạo ra mối liên kết tin tưởng thay vì oán giận. Nhờ đó mà kinh tế và kỹ thuật Hoa Kỳ phát triển rất nhanh sau cuộc chiến khiến khắp nơi thế giới, ai nấy đều có nhà và xe hơi. Một nhân công mỹ có thể nuôi một vợ và con, có chiếc xe hơi.


Trong nước, ý tưởng này đã vấp phải sự phản đối dữ dội. Những người chỉ trích cáo buộc Marshall lãng phí tiền của Mỹ, "nuôi dưỡng người nước ngoài" khi các cựu chiến binh Mỹ vẫn cần sự giúp đỡ. Tương tự ngày nay, người ta hô hào ủng hộ Ukraine đánh Puchin nhưng chả thấy ai tự nguyện lên đường sang Ukraine đánh Puchin. Một số người thậm chí còn gọi kế hoạch này là phản quốc, cho rằng nó sẽ củng cố sức mạnh cho những kẻ thù cũ như Đức và Ý. Tại Thượng viện, cuộc tranh luận trở nên gay gắt. Tuy nhiên, Marshall vẫn giữ bình tĩnh. Ông không tranh luận hay biện hộ. Ông chỉ đơn giản nêu ra sự thật và để logic của lòng trắc ẩn tự lên tiếng.


“Hoa Kỳ sẽ giúp tái thiết toàn bộ châu Âu.” Không chỉ giúp một nước, không chỉ giúp đồng minh, mà là toàn bộ lục địa chìm trong bóng tối. Ông không hứa cứu trợ nhân đạo đơn thuần mà đề nghị một phương thuốc chữa tận gốc: giúp các quốc gia tự đứng vững. Một phóng viên đã viết “Marshall không nói bằng lửa, mà bằng sự tỉnh thức.” Và chính sự tỉnh thức ấy đã thay đổi thế giới.


Trong vòng bốn năm, kết quả là không thể phủ nhận. Sản lượng công nghiệp của châu Âu đã tăng hơn 35%. Nạn đói giảm, chính phủ ổn định, và những kẻ thù cũ trở thành đồng minh. Kế hoạch này không chỉ tái thiết các thành phố mà còn xây dựng lại niềm tin vào nền dân chủ, vào sự hợp tác, và vào chính nước Mỹ. Như chúng ta thấy Tây Đức và Nhật Bản, phát triển thậm chí ngày nay người Nhật và người Nam Hàn làm cái tượng của tướng McArthur.


Công nghiệp Tây Âu vượt mức trước chiến tranh. Người dân có việc làm trở lại. Nhà cửa được xây mới. Hệ thống dân chủ được củng cố. Các quốc gia kề vai hợp tác thay vì nghi ngờ. Ngay cả những nước từng là đối thủ trong chiến tranh cũng nhận viện trợ. Marshall hiểu rằng: Hòa bình bền vững không thể xây trên lòng thù hận. Chỉ có thể xây trên thịnh vượng chung.


Do đó khi nghe thiên hạ chửi nhau này nọ. Quá dễ vì họ không phải hy sinh nhân mạng, tài chính nên tha hồ hét bú xua la mua đến tên cuối cùng cũng đánh. 


Kế hoạch Marshall trở thành nền tảng cho Cộng đồng Kinh tế châu Âu, rồi Liên minh châu Âu sau này. Kế hoạch Marshall cung cấp 13 tỷ đô la, một con số khổng lồ thời bấy giờ. Nhưng số tiền ấy vẫn chưa phải là điều đặc biệt nhất. Lần đầu tiên trong lịch sử, một cường quốc chiến thắng chọn xây dựng thay vì trừng phạt. Có lẻ ông ta học được bài học thế chiến thứ nhất, khi quân chiến thắng trừng phạt Đức quốc khiến phòng trào Đức quốc Xã lên ngôi và tìm cách trả thù tạo nên thế chiến thứ 2.


Họ gửi lúa mì đến nuôi dân đói, gửi than để sưởi ấm mùa đông, máy móc để dựng lại nhà máy. Gửi vốn để mở lại thương cảng và gửi cả niềm tin rằng tương lai có thể tốt hơn. Một nhà sử học viết: “Kế hoạch Marshall không chỉ mang hàng hóa đến châu Âu. Nó mang lại hy vọng.”


Khi George Marshall nhận giải Nobel Hòa bình năm 1953, ông trở thành người lính chuyên nghiệp đầu tiên làm được điều này. Đứng trước khán giả ở Oslo, ông đã nhận giải thưởng với cùng một sự khiêm nhường lặng lẽ đã định hình cuộc đời ông. "Hòa bình", ông nói, Tôi là một người lính. Tôi hiểu chiến tranh tàn phá thế nào và tôi biết hòa bình đáng giá ra sao.” Ông không nói về chiến thắng, không nói về vinh quang. Ông nói về điều duy nhất khiến chiến thắng có ý nghĩa: khôi phục lại cuộc sống của con người.


Không lâu sau đó, ông từ giã sự nghiệp chính trị. Không giống như nhiều người cùng thời, ông không viết hồi ký, không có bài phát biểu nào để tôn vinh thành tích của mình, và cũng không tìm kiếm chức vụ chính trị nào. Ông chưa bao giờ đấu tranh để được công nhận, mà chỉ đấu tranh vì kết quả. Khi ông qua đời vào năm 1959, không có tượng đài cá nhân hay lời tri ân nào được viết ra. Chỉ có một di sản được khắc trên những con phố được xây dựng lại của châu Âu và sự ổn định của một thế giới mà ông đã góp phần cứu vãn.


George C. Marshall đã dành cả cuộc đời để làm chủ nghệ thuật chỉ huy, nhưng hành động lãnh đạo vĩ đại nhất của ông không đến trong chiến tranh mà là trong hòa bình. Vào thời điểm thế giới sẵn sàng trừng phạt, ông đã chọn tái thiết. Vào thời điểm cơn giận dễ dàng đến, ông đã chọn lòng nhân từ.


Ông đã chứng minh rằng sức mạnh thực sự không phải là sức mạnh hủy diệt, mà là lòng can đảm để khôi phục lại những gì sự hủy diệt đã lấy đi. Một nhà ngoại giao châu Âu từng nói: “Nếu không có Marshall, có lẽ châu Âu vẫn còn chia rẽ, đói nghèo và sợ hãi.”


Khi mình ở Pháp quốc, có viếng vùng Normandie, nơi có mấy nghĩa trang quân đội Hoa Kỳ, đã nằm xuống để “giải phóng” nước pháp. Ngược lại người Pháp rất ghét người Mỹ kêu “les amerloques” này nọ, chửi Hoa Kỳ không thương tiếc. Nếu không có người Mỹ nhảy vào cuộc chiến thì có lẻ ngày nay người Pháp nói tiếng đức. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn