Hiển thị các bài đăng có nhãn love. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn love. Hiển thị tất cả bài đăng

Quân đội bị lãng quên

 Quân đội bị bỏ quên


Khi đọc sách báo về cuộc chiến tranh Việt Nam từ người Mỹ hay Hà Nội viết thì tuyệt nhiên không thấy ai nhắc đến công lao và sự hy sinh trên 1 triệu người ở miền Nam. Lịch sử được viết bởi kẻ thắng cuộc. Người Mỹ thì kêu các sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà tham nhũng, bất tài trong khi Hà Nội chỉ kêu bọn nguỵ quân nguỵ quyền, tay sai đế quốc sài lang. Thật ra thì có vài ông tướng tham nhũng như ông Nguyễn Văn Toàn, khi làm tư lệnh quân khu II, đã cho đệ tử trao tiền cho Việt Cộng để người ông ta vào cưa cây đem bán cho ngoại quốc. Mình có kể vụ này rồi khi trinh sát 302 bắt gặp và bắn chết Việt Cộng và thiếu tá đưa tiền Việt Cộng khiến ông ta nổi điên đi trực thăng kiếm thiếu tá Phong ở ngoài mặt trận. Nếu con chúng ta đọc những tài liệu này hay được dạy ở trường thì chúng sẽ bị xấu hổ về cha ông của chúng. Ngày nay thì Hà Nội còn tham nhũng gấp vạn lần.

Khi mình sang Hoa Kỳ thì thấy đại học Hoa Kỳ tổ chức các buổi thảo luận về chiến tranh Việt Nam. Để diễn đàn thêm phần trung dung, họ mời đại diện Hà Nội, đại diện người Mỹ phản chiến và đại diện cộng đồng người Việt tỵ nạn. Vấn đề là cộng đồng người Việt không thống nhất đưa ai đi đại diện. Người muốn đi thì không rành anh ngữ, các sinh viên Việt Nam nói sẽ thông dịch rồi cuối cùng họ từ chối tham dự, chỉ kéo nhau lại biểu tình trước cổng đại học rồi ra về hồ hởi vì đã đi biểu tình chống cộng trong khi người Mỹ phản chiến và Hà Nội bên trong nói chuyện đưa ra quan điểm của họ cho thính giả mỹ. Nhiều người trong cộng đồng người Việt từng là sĩ quan cấp tá mà không hiểu cuộc chiến tranh tâm lý. Trình bày quan điểm tại sao Việt Nam Cộng Hoà thua và sự tàn ác của Việt Cộng. Cứ kêu bọn Việt Cộng không tin được, gian ác lắm. người Việt chúng ta nói chuyện theo cảm tính nhưng người Tây phương thì họ nói chuyện theo lý lẻ, phải giải thích lý do thì người mới tâm phục khẩu phục. Ngoài ra mình dám chắc nội tuyến của Hà Nội khắp nơi trong các hội đoàn người Việt. Tìm cách gây lũng đoạn.


Khi mình được sinh viên mời đi nói chuyện với người Mỹ tại đại học như NYU hay Brown,… Gặp phản chiến mỹ như ngày nay thế hệ xuống đường chống MAGA này nọ. Mình chỉ đưa ra vài điểm cho người Mỹ hiểu. Tại sao cả triệu người Việt bỏ nước ra đi bằng đường biển mà theo tin tức của cao uỷ tỵ nạn liên hiệp quốc cho biết chỉ 50% đến bờ còn lại chôn vùi trong biển sâu. Thủ tướng Phạm Văn Đồng trả lời Paris Match có 3 triệu tù nhân cải tạo. Đưa ra thí dụ của 3 anh em Nguyễn Tuệ, không được Hà Nội cho học, nay 3 anh em vượt biển, ai nấy đều có bằng tiến sĩ nhất là Nguyễn Tuệ có 7 cái bằng của đại học MIT. Không cần chửi bới đưa thí dụ để sinh viên mỹ hiểu vì chính họ đã thấy các sinh viên gốc việt kể là thuyền nhân. Tiếng tây tiếng u không rành nhưng cứ nói. Có lần bà giáo sư đại học NYU tranh cãi với mình, sau đó bắt tay mình kêu “good debate!”.


Dạo ấy mình hay ghé nhà ông Al Santoli, cựu chiến binh mỹ, có qua trại tỵ nạn giúp người Việt tỵ nạn và lấy vợ ở trại đem về mỹ. Chỉ có ông ta đơn độc nói về chiến tranh Việt Nam. Nên nhớ sau vụ Mỹ Lai, các cựu chiến binh mỹ về lại Hoa Kỳ hay bị người Mỹ lên án là những kẻ giết đàn bà con nít babykiller”. Nên ít cựu chiến binh xuất hiện, nay thì khác nhưng họ đều lớn tuổi.


Có ông mỹ viết cuốn sách Vietnam’s Forgotten Army: Heroism and Betrayal in the ARVN, nói về quân đội Việt Nam Cộng Hoà bị bỏ quên để dấy lên sự đóng góp của quân lực Việt Nam Cộng Hoà trong cuộc chiến đấu cho tự do. Những cuốn sách này nên khuyến khích con cháu chúng ta đọc để chúng tự hào về Việt Nam Cộng Hoà, thay vì chỉ đọc sách mỹ hay của Hà Nội đều gieo tiếng ác, hạ nhục kẻ thua cuộc.

Cuốn sách của Andrew Wiest góp phần lấp đầy một khoảng trống lớn trong lịch sử Chiến tranh Việt Nam. Trong khi hàng nghìn cuốn sách đã được viết về cuộc chiến từ góc nhìn của người Mỹ và phía cộng sản Việt Nam, thì Quân lực Việt Nam Cộng hòa (ARVN) lại thường bị các sử gia phương Tây xem như đúng theo những gì tuyên truyền cộng sản mô tả một lực lượng “tay sai”, nguỵ quân kém cỏi, với những nỗ lực hầu như không ảnh hưởng đến kết cục của cuộc chiến. Rất ít sự chú ý được dành cho những trải nghiệm, đóng góp và lòng dũng cảm của các binh sĩ ARVN, những người đã chiến đấu suốt nhiều thập kỷ trong điều kiện khắc nghiệt và vì những lý do mà ít người Mỹ thực sự hiểu rõ.


Có nhiều người miền Nam đem tâm tình viết hồi ký nhưng đường như để đánh bóng cá nhân của họ nhiều hơn. Ít được dịch ra anh ngữ hay pháp ngữ,… khi xưa sống tại Đà Lạt đọc báo và nghe radio thì tin tức chiến sự đều phe ta vô sự, hạ sát mấy chục cộng quân, bắt tù binh này nọ,… chỉ khi ra hải ngoại đọc tin tức hai bên thì mới khám phá ra chiến dịch Lam Sơn 719 là thất bại, chết rất nhiều cả hai bên ở Quảng trị,…


Nhớ dạo ấy, đài Sàigòn nói nhiều về đại tá Nguyễn Đình Bảo hy sinh tại Hạ Lào, sau này đọc hồi ký của nhạc sĩ Tô Hải thì ông ta kể Hà Nội bắt sống ông đại tá này và cho rêu rao trên đài phát thanh Hà Nội. Nhạc sĩ Tô Hải có viết cuốn hồi ký thằng Hèn, nói chung ông ta bị Hà Nội đì mệt thở. Nhau công ta được chơi ở nhà hát Hà Nội nhưng ông ta không được tham dự vì chống lại Hà Nội.


Giáo sư Wiest kể lại câu chuyện đầy kịch tính về hai sĩ quan trẻ của Việt Nam Cộng Hoà, Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huệ, những người có cuộc đời song hành nhưng cuối cùng cuộc chiến lại đưa ra những lựa chọn hoàn toàn khác nhau khi đối mặt với quyết định khắc nghiệt nhất mà một người lính có thể gặp phải. Cả hai đều xuất thân từ những gia đình trung lưu có học thức, đều sinh ra tại cố đô Huế, và đều phục vụ suốt sự nghiệp quân sự của mình trong Sư đoàn 1 bộ binh Việt Nam Cộng Hoà mà theo nhiều chuyên gia quân sự đánh giá là một trong những đơn vị tinh nhuệ nhất của quân đội miền Nam. 


Cả hai ông Đính và Huệ đều có thành tích chiến đấu xuất sắc. Cả hai đóng vai trò quan trọng trong trận tái chiếm thành phố Huế trong cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân năm 1968, nơi họ thể hiện năng lực vượt trội đến mức đều được trao tặng huân chương quân sự của Hoa Kỳ (Ngôi Sao Đồng và Ngôi Sao Bạc) vì lòng dũng cảm và thành tích trong trận chiến kéo dài và đẫm máu này. Giáo sư Wiest chỉ ra rằng vai trò quan trọng của các đơn vị Việt Nam Cộng Hoà trong trận chiến này phần lớn đã bị các sử gia Mỹ bỏ qua. Hình như mất cả tháng mới chiếm lại hoàn toàn Huế.


Sau Tết Mậu Thân, khi cuộc chiến dần kết thúc đối với quân đội Mỹ nhưng lại trở nên ác liệt hơn đối với Việt Nam Cộng Hoà, cả hai người tiếp tục chỉ huy các đơn vị của mình và bất ngờ rơi vào những tình huống tuyệt vọng, nơi lựa chọn duy nhất là đầu hàng và chuyển sang phía đối phương, đối mặt với thất bại không thể tránh khỏi, bị bắt, bị giam cầm, hoặc cái chết. Trần Ngọc Huệ, chiến đấu tại Lào vào đầu năm 1971, đã đưa ra một lựa chọn, trong khi Phạm Văn Đính, với tư cách là một chỉ huy trung đoàn đối mặt với tình thế vô vọng trong cuộc Tổng tấn công mùa Phục Sinh năm 1972, lại chọn một con đường khác. Giáo sư Wiest đã giải thích những yếu tố chính trị và tâm lý ảnh hưởng đến quyết định của mỗi người.


Với tư cách là một bức chân dung về hai cá nhân sống động và quan trọng, cuốn sách này đưa ra tình huống, và câu chuyện của họ phản ánh hình ảnh của nhiều sĩ quan và binh lính Việt Nam Cộng Hoà dũng cảm đã chiến đấu và hy sinh vì lý tưởng của mình trong Chiến tranh Việt Nam. Tuy nhiên, ở một tầng ý nghĩa khác, Giáo sư Wiest dựa vào quan điểm của hai sĩ quan này để đưa ra một số phê bình chung về chiến lược quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam.


Xuyên suốt cuốn sách, Giáo sư Wiest lặp lại những chỉ trích của Đính và Huệ rằng vào thập niên 1950 và đầu những năm 1960, quân đội Hoa Kỳ đã “ép buộc” ban lãnh đạo Việt Nam Cộng Hoà và Tổng thống Ngô Đình Diệm xây dựng quân đội Việt Nam Cộng Hoà thành một “quân đội quy ước” thay vì như các tướng lĩnh Việt Nam Cộng Hoà và ông Diệm được cho là mong muốn một lực lượng tập trung vào chống nổi dậy, du kích chiến. Giáo sư Wiest khẳng định đây là một sai lầm chiến lược căn bản. Ai buồn đời đọc báo Hà Nội theo đường dẫn. 


https://www.qdnd.vn/chinh-tri/tiep-lua-truyen-thong/tu-duy-chien-luoc-quan-su-cua-dai-tuong-vo-nguyen-giap-745496#:~:text=Chi%E1%BA%BFn%2520tranh%2520nh%C3%A2n%2520d%C3%A2n%2520%C4%91%C6%B0%E1%BB%A3c%2520ph%C3%A1t%2520huy,v%E1%BB%9Bi%2520ph%C6%B0%C6%A1ng%2520ch%C3%A2m%2520%E2%80%9Chai%2520ch%C3%A2n%252C%2520ba%2520m%C5%A9i%E2%80%9D;


Thực tế, như bất kỳ ai nghiên cứu về Chiến tranh Việt Nam và các tác phẩm của tướng Bắc Việt Võ Nguyên Giáp đều biết, chiến lược “chiến tranh nhân dân” của phía cộng sản không phải là một cuộc nổi dậy cổ điển. Họ tiến hành chiến tranh bằng một chiến lược kết hợp độc đáo giữa chiến tranh du kích quy mô nhỏ và các chiến dịch quy ước quy mô lớn. Một quân đội Việt Nam Cộng Hoà được tổ chức chủ yếu để chống nổi dậy có lẽ đã bị tiêu diệt trước các đợt tấn công quy mô lớn của lực lượng chính quy cộng sản bắt đầu từ năm 1964; thực tế, ngay cả lực lượng Việt Nam Cộng Hoà “quy ước” do Hoa Kỳ xây dựng trong chương trình Việt Nam hoá mà Wiest chỉ trích cũng tỏ ra quá yếu để chống lại những đòn đánh này. Chính sự yếu kém đó, chứ không phải việc Việt Nam Cộng Hoà không thể đối phó với du kích, đã buộc Hoa Kỳ phải đưa lực lượng bộ binh chiến đấu vào Việt Nam năm 1965. Chúng ta nhớ vụ áp dụng chương trình ấp chiến lược được áp dụng thành công ở Mã Lai nhưng thất bại ở Việt Nam vì văn hoá khác nhau.

Trung tá Đính đầu hàng Việt Cộng để cứu binh sĩ vì hết đạn, không được tiếp tế.

Cuối cùng, sự nghiệp quân sự của cả Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huệ đều bị hủy hoại khi các đơn vị Việt Nam Cộng Hoà quy mô lớn mà họ chỉ huy bị các đơn vị Bắc Việt áp đảo trong những trận đánh quy mô trung đoàn lớn… có báo Hà Nội nói về vụ trung tá Đính đầu hàng như sau:


https://cand.com.vn/Tu-lieu-antg/Ngay-tro-ve-cua-trung-ta-Pham-Van-Dinh-trong-mua-he-do-lua-i303933/


Tại căn cứ Carroll, ông Phạm Văn Đính, chỉ huy tiểu đoàn 56 khi quân đội chính quy của Hà Nội tấn công cuối tháng 3 năm 1972. Theo người ta kể lại thì tiểu đoàn của ông thiếu đạn dược, không được tiếp viện. Và bị tổn hại khá nhiều. Cuối cùng ông ta liên lạc với cộng quân vào 2:30 chiều ngày 2 tháng 4 năm 1972, xin đầu hàng. Sự đầu hàng của ông ta khiến quân đội miền Nam mất thêm nhưng địa cứ khác như Mai Lộc vì tiểu đoàn này có pháo binh hạng nặng. Và đưa đến mất Quảng Trị và Hải Lăng. Hình như sau vụ này hai tướng Vũ Văn Giai và Hoàng Xuân Lãm bị cách chức, ông Vũ Văn Giai bị lên án 5 năm tù, sau 75 đi tù Việt Cộng. Còn ông Hoàng Xuân Lãm thì ngồi chơi xơi nước đến 75.

Trong khi ông Trần Ngọc Huệ thì bị bắt làm tù binh tháng 3 năm 1971 trong thời gian chiến dịch Lam Sơn 719. Ông ta được đưa ra Hà Nội nhốt tại Hoa Lò mà người Mỹ hay gọi Hà Nội Hilton. Ông ta được thả năm 1983 và sang Hoa Kỳ năm 1991 với gia đình. (còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

51 năm nhìn lại Little Sàigòn

 51 năm từ Sàigòn đến Bolsa 

Nếu nhìn lại 51 năm qua, sự ra đi của người Việt tỵ nạn trong lúc hối hả trước ngày 30/4/75 thì phải công nhận như một phép lạ, cộng đồng người Việt đã thành lập lại một Tiểu Sàigòn, được xem là thủ đô của cộng đồng người Việt hải ngoại. 

Phước Lộc Thọ


Ngày hải hùng đó đã khiến chúng ta mất quê hương, chúng ta có thể xây dựng lại một quê hương ở nơi khác. Có nhiều người ra đi trong lúc vội vã không biết gia đình còn sống hay chết. Ngày nay theo thống kê có đến 189,000 người Mỹ gốc việt sinh sống tại quận Cam (Orange COunty). Cộng đồng người Mỹ gốc việt lớn nhất tại Hoa Kỳ. 40% người Việt sinh sống tại thành phố Westminster, 31% ở thành phố Garden Grove.


Có thể nói không có truyền thông như tờ báo đầu tiên Người Việt do ông Đỗ Ngọc Yến thành lập với luật sư Đạt Phan, con ông Phan Huy Quát. Thì có lẻ Little Sàigòn không đông như ngày nay vì các lớp người Việt tỵ nạn tiếp tục sang Hoa Kỳ và đọc báo và dọn về vùng này ở.


Năm 1979, chỉ có 30 business ở phố Bolsa, đến năm 1981 thì có 300 business ở đây rồi đến năm 1984 lên đến 600. Ngày nay, có trên 4,000 business ở trong phạm vi 3 dặm vuông. Người ta tính có trên 280 tiệm ăn, 42 tờ báo việt ngữ, 5 đài phát thanh, 2 đài truyền hình phát các chương trình khắp nơi trên thế giới.


Ở trung tâm Tiểu Sàigòn có Phước Lộc Thọ khiến ai đến đây lần đầu cảm thấy như vào một chỗ nào huyền thoại. Năm 1986, một người sở hữu 1/3 địa ốc ơ Bolsa muốn đặt tên là Asian Town nhưng cộng đồng không chịu và tranh chấp suốt 2 năm liền và đã thắng, khu vực này được đề bảng Little Sàigòn trên xa lộ để xe quẹo vào. Con đường Bolsa được đấu tranh để bảo vệ bản sắc của người Việt tỵ nạn và nhưng người Việt tỵ nạn đã xây dựng trung tâm cộng đồng người Việt lớn nhất tại hải ngoại. Mình nghe nói là Đài Loan bỏ tiền xây rất nhiều khu phố Bolsa. Sau này có người Việt tư bản đỏ sang đầu tư nữa.


Mọi sự khởi đầu từ ngày 30 tháng 4 năm 1975. Các trực thăng di tản các người Mỹ cuối cùng ở Việt Nam, và cuộc chiến chấm dứt với triệu người vui và hàng triệu người buồn. 130,000 người Việt được người Mỹ di tản khỏi Việt Nam, được xem là cuộc di tản cấp tốc rộng lớn nhất ở thế kỷ 20 trong thời gian rất ngắn. Nghe CIA giải thích là nhờ báo cáo của điệp viên X92, Võ Văn Ba báo trước nên Hoa Kỳ mới có thời gian chuẩn bị cuộc di tản các thành phần có dính dang đến chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng Hoà.


người Mỹ không muốn như trường hợp của người tỵ nạn Cuba là dồn về một nơi ở tiểu bang Florida, họ rãi người Việt khắp nơi trên nước Mỹ như 10,000 người ở tiểu bang Florida, 22,000 ở Pennylvania, 51,000 ở Arkansas và 50,000 ở trại thuỷ quân lục chiến Pendleton, tiểu bang California. Hơn 1/3 ở nam Cali.


Vấn đề là người Việt di tản ở trong các trại tiếp cư và đợi ai đó ở ngoài bảo lãnh họ, đúng hơn người Mỹ vì dạo đó rất ít người Việt ở Hoa Kỳ. Đa số là sinh viên du học. Các giáo phận công giáo tham gia, và các nhà thờ tin lành. Họ đưa người Việt đến các thành phố như Westminster, Garden Grove, Santa Ana,…nhưng khu vực không sang trọng, đúng hơn là nghèo. Lý do là tiền thuê nhà rẻ.


Rồi làn sóng tỵ nạn thứ 2 đến, từng năm 1979-1985, các thuyền nhân đến đảo ở đông Nam Á, được phỏng vấn đi mỹ. 800,000 người Việt tỵ nạn đến định cư tại Hoa Kỳ. Nghe cao uỷ tỵ nạn cho rằng 50% người vượt biển nằm lại trong lòng đại dương. 1000 người mỗi tháng tại Quận Cam.


Rồi làn sóng thứ 3 đến qua chương trình Orderly Departure Program (ODP), đoàn tụ gia đình.


Làn sóng thứ 4 cuối thập niên 1980 đến 1990, các tù nhân chính trị, cải tạo được Hoa Kỳ thâu nhận. Các làn sóng nhập cư người Việt đều đọc báo người Việt và các báo khác ở Bolsa, giúp họ dọn về định cư tại Quận Cam.


Mấy năm gần đây thì thấy có nhiều người Việt di dân qua đầu tư theo EB-5 hay các chương trình khác. Chúng ta bắt đầu thấy xuất hiện con cháu của những người từng tuyên bố đánh cho mỹ cút nguỵ nhào. Mình có gặp vài người khi họ hỏi mua cái vườn của mình. Có đám chuyên gia giúp họ đầu tư qua Hoa Kỳ để hạ cánh an toàn. Nghe họ kể nằm bắt võng ở đầu Trường Sơn, tự xưng là di dân chớ không hoi ải tỵ nạn.


Khi làn sóng người Việt đầu tiên đến Bolsa thì khu vực này đang chết. Mình nhớ khi mình đến Cali lần đầu tiên thấy nhiều vườn trồng dâu của người Nhật. Các dãy phố lụp xụp Chán Mớ Đời nhưng được cái là đất ở đây rẻ. Không như ngày nay.


Người mở tiệm bán tạp phô Việt Nam đầu tiên là ông Danh Quách nhưng ít khách lắm. Ông ta kể là 3 năm trời ít khách nhưng ổng a vẫn tiếp tục. Theo ông ta thì có lần thị trưởng thành phố và cảnh sát trưởng ghé tiệm ông và nói là cảm thấy không yên lòng về sự có mặt của tiệm ông ta. Người dân địa phương da trắng cảm thấy khó xử. Mình nhớ khi mới dọn về Westminster thì xung quanh là người Mỹ trắng rồi dần dần họ bán nhà bỏ chạy và người Việt dọn đến. Nay chỉ thấy gốc mít xung quanh.


Ông Quách không muốn bỏ đi và có dược sĩ Danh Quách dọn đến mở tiệm thuốc tây năm 1978, rồi tiệm Hoà bÌnh rồi Tân Mai. Rồi năm 1979 có được 30 business của người Việt. Đúng lúc có làn sóng người Việt thuyền nhân định cư tại đây khiến thương mại phát triển, khách đến mua đông như quân nguyên, nói tiếng Việt như người Việt.


Năm 1981, 300 business, 1984, 600 business rồi ông Triệu Phát đến Hoa Kỳ năm 1975, buồn đời mua đất rồi xây Phước lộc Thọ. Năm 1987, cảnh sát Westminster ước lượng mỗi cuối tuần có 20,000 đến 60,000 người đến mua sắm ăn phở ở Bolsa. Cứ ra khỏi xa lộ quẹo vào đường Brookhurst là kẹt xe, người Việt lại lái xe kiểu biết bố mày la ai, bóp kèn in ỏi.


Ở bolsa người Việt đã xây dựng lại truyền thống Tết, như diễn hành, rồi chợ Tết nơi hội tụ người Việt tỵ nạn từ xa về về đây mấy ngày tết để ăn tết với bạn bè và gia đình. Rồi đình chùa mọc lên như nấm. Giúp các con cháu chưa bao giờ biết Việt Nam có thể hoà mình vào không khí tết được tạo dựng lại bưởi cha mẹ ông bà. Với hội chợ tết này nọ hay chợ đêm khi hè đến, giúp người Việt tha hương có thể tìm lại chút gì để nhớ. Mình thấy đắt tiền nên chả bao giờ bò ra thêm kẹt xe.


Tiểu Sàigòn trở thành trung tâm văn hoá của người Việt tỵ nạn khắp thế giới. Các cuốn sách bị cấm tại Việt Nam được sản xuất nhiều như bánh mì baguette mỗi ngày. Các băng nhạc video được thâu dựng rồi bán qua âu châu và Úc Châu.


người Việt bỏ nước ra đi chỉ còn lại ký ức quê hương và đã tạo dựng lại quê hương trên đất nước đã cưu mang họ. Nhưng họ không quên lý do tại sao phải bỏ nước ra đi tìm tự do. Có một ngày mà hàng năm cộng đồng người Việt đều tụ tập lại để tưởng niệm nhưng người dã hy sinh trong cuộc chiến cho tự do và những người đã bỏ mình trên đường vượt biển. Họ đã mua đất để xây đài tưởng niệm chiến tranh Việt Nam (Vietnam warmemorial).


Xét ra thế hệ đầu tiên xây dựng để sống còn còn thế hệ thứ 2 thì xây dựng quyền lực. Năm 1992, ông Tony lâm đắc cử nghị viên của thành phố, người Việt đầu tiên đắc cử. Vào thập niên 1990 cử tri người Việt khá đông nên các đảng không thể làm lơ như xưa. Nhưng cộng đồng người Việt như cộng đồng cuba rất chống cộng. Khi ông John MacCain ra tranh cử tổn thống, có đến kiếm phiếu cũng như Bush cha. 


Theo thống kê thì 53% cử tri ở Tiểu Sàigòn bầu cho ông Trump. Lý do ông ta chống Trung Cộng. Mà người Việt tỵ nạn lại ghét tàu. Họ bảo thủ vì ký ức, những năm tháng dài bị Việt Cộng bỏ tù. Họ bỏ phiếu theo địa chính hơn là các chương trình phúc lợi địa phương.


Nhưng ngày nay, sau khi bám rể vào đời sống Hoa Kỳ, thì có sự rạn nứt trong giới cử tri. Theo thống kê thì cử tri gốc việt dưới 49 tuổi, 65% ghi danh là cử tri của đảng dân Chủ. Lý do là thế hệ thứ hai không trốn thoát khỏi Việt Nam. Họ không bị ở tù cải tạo, tiểu Sàigòn không phải là nơi định cư tạm của họ như thế hệ trước.


Thế hệ con cháu dọn đi các thành phố khác như Irvine, Costa Mesa, Laguna. Thế hệ này là luật sư, bác sĩ, kỹ sư. Họ đã vào dòng chính của Hoa Kỳ.


Đó là bề ngoại bề nổi, mặt bằng của Tiểu Sàigòn, chúng ta thấy tiệm ăn mọc như nấm nhưng nếu nhìn kỹ thì trong khu Tiểu Sàigòn có đến 5  khu mobile homes mà đa số người Việt ở, với tiền thuê đất đắt như vàng. Các người lớn tuổi sinh sống ở đây cho tiện đường mua sắm, nơi mà họ đã cùng nhau tạo dựng. Các người cao tuổi sống nhờ tiền an sinh xã hội. 


Little Sàigòn có hai loại kinh tế. Một kinh tế khiến thiên hạ đến mua sắm và một cố gắng sống chật vật phía sau mặt bằng hoành tráng của Tiểu Sàigòn. 


50 năm nhìn lại, cộng đồng người Việt đã thành công xây dựng qua bao nhiêu làn sóng đến Hoa Kỳ. Chúng ta bỏ lại sau lưng quê hương để xây dựng lại một quê hương thứ hai trên đất mỹ. Nhưng tương lai thế hệ con cháu có thể sẽ không màn đến vì Irvine có tiệm ăn Tàu, việt. Ngày thành phố mình bây giờ bắt đầu có tiệm ăn tàu, Việt Nam, đại hàn mọc lên như nấm. Có lẻ sẽ ít xuống Bolsa nhất là xăng trên $6. Nhưng phải kể là các lớp người Việt đi trước đã bỏ công gầy dựng một trung tâm để chúng ta quay về như viếng lại ký ức của quê hương bỏ lại.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Sự sụp đổ của Việt Nam Cộng hòa năm 1975 dưới mắt người Mỹ

 Sự sụp đổ của Việt Nam Cộng hòa năm 1975 dưới mắt người Mỹ 


Chiến tranh Việt Nam, theo mình đọc hay xem phỏng vấn trên các đài History về Việt Nam thì người Mỹ đa số đổ lỗi cho Việt Nam Cộng Hoà để tự giải thích sự thất bại của họ tại chiến trường Việt Nam. Họ viện dẫn thất bại vì lãnh đạo miền nam tham nhũng này nọ. Nhưng họ quên chính họ là những người dẹp ông Diệm để đưa các tướng lãnh lên lãnh đạo. Mấy ông tướng này thường khi xưa đi lính cho tây rồi được lên chức sĩ quan khi Pháp về nước sau khi thất trận tại Điện Biên Phủ, chính quyền mới cho họ theo học vớ vẩn huấn luyện vài tháng thì lên sĩ quan. Ông cụ mình có hai cơ hội đi học khoá sĩ quan hay y tá, thì ông cụ chọn học y tá vì không muốn bắn giết. Nên sau khi giải ngủ thì đi chích dạo, sau 75 vào tù cứu được nhiều người. Có người nhớ ơn hay ghé nhà đấm lưng cho ông cụ. Trình độ không giỏi lắm, thế hệ thứ hai sĩ quan được đào tạo có bài bản tại các trường sĩ quan như Võ Bị Quốc Gia, Thủ Đức vì có trình độ cử nhân. Thế hệ cấp tá này chưa kịp thay thế thế hệ lính của tây ngày xưa thì đã tan hàng. Chán Mớ Đời



Cái nguy hiểm là con cháu chúng ta sinh ra tại hải ngoại và học ở trường về lịch sử chiến tranh Việt Nam sẽ có cái nhìn lệch lạc về cuộc chiến và chúng sẽ không hiểu lý do chúng ta bỏ nước ra đi. Thậm chí có thể khinh khi cha ông của chúng vì tài liệu chiến tranh do kẻ thắng cuộc viết và Hoa Kỳ. Vì tin tức sách báo của người Mỹ viết đều để xoá bỏ mặc cảm và đổ lỗi cho Việt Nam Cộng Hoà. Người Mỹ nói với chúng tôi là cộng sản xấu, kêu chúng tôi phải chống lại với sự tuyên truyền, xây dựng thành trì tự do rồi khi người Mỹ bắt tay với Trung Cộng để bán coca cola thì người Mỹ bỏ chúng tôi kêu lỗi chúng tôi không chiến đấu mà nghe nói có trên 1 triệu người miền nam chết hay bị thương còn Hà Nội thì 3 triệu người. Con số này thì không bao giờ biết rõ chỉ biết số thương vong của người Mỹ là trên 50 nghìn người và một số mất tích còn Việt Nam Cộng Hoà thì không ai nhắc đến còn Hà Nội thì sẽ không bao giờ công bố. Tóm lại người Việt hai bên đánh nhau do các cường quốc uỷ nhiệm.


Có lẻ cảnh nhìn các nấm mồ ở nghĩa trang quân đội Việt Nam Cộng Hoà ở Biên hoà khiến mình thất kinh khi thấy hàng hàng lớp lớp các nấm mộ tử sĩ chết trẻ toàn là 19-20 tuổi. Mình thấy hình của đại sứ mỹ tuần này có đến thắp hương ở nghĩa địa này. Ai buồn đời thì theo dõi toà đại sứ Hoa Kỳ trên mạng.


Hôm qua có người gửi cho mình một bài viết của một giáo sư trẻ gốc việt, đi theo diện H.O. Vì ông bố đi tù mấy năm. Ổng ta kể là ở Việt Nam bị gọi con nguỵ, rồi sang Hoa Kỳ thì bị học sinh trong lớp nghe giảng về chiến tranh thì hỏi bên nào rồi kêu mày đáng bị thua nên cuối cùng anh ta theo học để dạy lịch sử Việt Nam theo những gì đã kinh qua. Chúng ta cần giải độc cho người Mỹ về chiến tranh Việt Nam. Tháng này khi đến phiên mình diễn thuyết tại hội toastmasters thì sẽ nói đến vụ này. Mình thấy bỏ công sức ra để giải thích cho người Mỹ rõ về cuộc chiến, lối nhìn quan điểm của kẻ thua cuộc hay hơn là xúm nhau lại chửi bới nhau dân chủ với cộng hoà.


Hôm trước, ở Texas, có vợ chồng anh bạn kể là khi đi học đại học, ông thầy nói soạn bài về chiến tranh Việt Nam nhưng họ không rành lắm nên cũng không giải thích được cho bạn học người Mỹ hiểu thêm về tình hình chiến tranh Việt Nam. Mình khi xưa cũng i tờ nên phải kiếm sách báo về chiến tranh Việt Nam đọc. Tin tức của Việt Nam Cộng Hoà, của người Mỹ, của Hà Nội để tự cho một kết luận thay vì nghe một chiều. Ai buồn đời thì vào đây đọc để hiểu thêm lý do Việt Nam Cộng Hoà thua.


https://www.wilsoncenter.org/sites/default/files/media/documents/publication/CWIHP_Working_Paper_73_Soviet-Vietnamese_Intelligence_Relationship_Vietnam_War.pdf

Sau hiệp định Paris, Người Mỹ có chương trình Việt Nam hoá chiến tranh, huấn luyện Việt Nam Cộng Hoà đánh trận như họ, dùng trực thăng rãi quân nhưng khi người Mỹ rút quân không cung cấp thêm khí tài, nhiên liệu gần như cúp viện trợ thì có máy bay cũng đâu có bay được. Có súng không đạn thì bù trớt.


Có lần thằng cháu họ học UCLA ghé nhà mình ngủ qua đêm với bố nó. Sáng ra nó lấy sách về cuộc chiến Việt Nam viết bằng tiếng mỹ đọc. Nó kêu là lần đầu tiên đọc cuốn sách anh ngữ nói rõ về chiến tranh Việt Nam, khác biệt với những gì nó đã từng đọc. Và sau đó nó hỏi mình thêm thì thất kinh về những gì mình giải thích khác với những gì nó đọc trong sách hay học ở trường. Bố nó thì khi xưa còn bé nên chả hiểu gì nhiều về chiến tranh Việt Nam, cứ vượt biển rồi học hành ra đi làm nuôi vợ con.


Mình xem các buổi nói chuyện của ông Merle L. Pribbenow II, nói chuyện tại các lớp đại học Hoa Kỳ. Rất ấn tượng vì ông ta đọc, dịch tài liệu chiến tranh Việt Nam từ phía Hà Nội, cũng như Sàigòn để tìm hiểu thêm về cuộc chiến Việt Nam. Trước đây ở Berkeley, có một ông mỹ hình như CIA khi xưa tên Douglas Pike, có dịch thuật tài liệu của Hà Nội. Mình tóm tắc lại đây:


Ông Pribbenow II cho biết đưa ra một ý tưởng khá đơn giản nhưng rất khó nghe đối với nhiều người mỹ. Mình nghĩ cũng như đối với người Việt theo Việt Nam Cộng Hoà như mình rất khó chịu. Nếu chúng ta chỉ đọc tài liệu của Mỹ, chúng ta sẽ không bao giờ hiểu đúng về Chiến tranh Việt Nam. Vì sao? Bởi vì trong suốt nhiều năm, chúng ta nhìn cuộc chiến này gần như chỉ từ một phía. Chúng ta có báo cáo, có số liệu, có phân tích… nhưng lại thiếu một thứ rất quan trọng: cách suy nghĩ của đối phương của Hà Nội. Ngày nay, mình hay đọc tài liệu, sách báo của Hà Nội để hiểu họ thêm. Mình có ông chú ruột bị B52 dập chết trên đường mòn Hồ Chí Minh trên đường vào Nam. Bố mình thì phản động còn Chú mình thì liệt sĩ. Ông bà mình có 3 người con trai, một người thì bị tây bắn chết, một người thì bị máy bay dập chết trên đường mòn HCM và ông cụ mình thì bị việt minh bao vây nhà ở quê để giết vì không theo họ, bỏ chạy vào nam rồi sau 75 bị đi tù 15 năm.


Chúng ta phải hiểu rằng thực ra có hai cuộc chiến đang diễn ra cùng lúc. Với Hoa Kỳ, đây là một phần của Chiến tranh Lạnh với Liên Xô và Trung Cộng: Ngăn chặn cộng sản tràn ngập đông Nam Á qua thuyết Domino. Nhưng thực tế cho thấy là khi Đông-Dương rơi vào tay cộng sản thì các nước lân cận không theo cộng sản. Giữ thế cân bằng toàn cầu. Nhưng với phía Bắc Việt Nam, đây là: Một cuộc chiến giải phóng dân tộc. Một cuộc chiến lâu dài. Một cuộc chiến mà họ sẵn sàng trả giá rất cao.


Và chính sự khác biệt này tạo ra vấn đề. Người miền nam như mình thì hiểu chủ trương cộng sản vì sau 75, Hà Nội đã áp đặt lý thuyết cộng sản trên toàn nước Việt Nam. Như ông Lê Duẫn đã từng tuyên bố, chúng ta đánh cho tàu cho Liên Xô. Đúng hơn là Việt Nam Cộng Hoà và Hà Nội đều đánh nhau theo kiểu chiến tranh uỷ nhiệm cho Hoa Kỳ và Liên Xô và Trung Cộng. Nhưng trong thời chiến tranh họ dùng chiêu bài, kêu gọi đánh cho “Mỹ cút nguỵ nhào”. Chính phủ Ngô Đình Diệm không muốn lính mỹ đổ bộ tại miền Nam, vì sẽ giúp cho Hà Nội có chính nghĩa kêu đánh đuổi tân thực dân nên bị dẹp qua một bên.


Hoa Kỳ muốn kết quả nhanh trong khi Hà Nội chuẩn bị cho cuộc chiến kéo dài nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ. Hình như mình có đọc đâu đó là ông Hồ có tuyên bố Việt Nam sẵn sàng chiến đấu 100 năm để dành lại độc lập. Người Mỹ thích nhanh chóng nên bỏ chạy. Sau này họ cố gắng ở Á Phủ Hãn nhưng sau 20 năm thì cũng bỏ của chạy lấy người.


Ông ta giải thích về chiến lược của Hà Nội sau khi đọc tài liệu của họ là Hà Nội không hề “liều lĩnh” như nhiều người nghĩ. Ngược lại: Họ tính toán rất kỹ, lên kế hoạch dài hạn và họ cực kỳ linh hoạt. Ông ta đưa ví dụ cuộc tấn công Mậu Thân. Về quân sự, họ chịu tổn thất nặng. Nghe nói trên 300,000 người nhưng về chính trị? Họ đã làm thay đổi hoàn toàn cách người Mỹ nhìn cuộc chiến khi người Mỹ xem các hình ảnh Việt Cộng tấn công toà đại sứ mỹ tại Sàigòn. Và trong chiến tranh, điều đó đôi khi quan trọng hơn thắng thua trên chiến trường.

Sách được bán trên Amazon

Vấn đề của Hoa Kỳ, chúng ta thắng rất nhiều trận đánh. Nhưng câu hỏi là: Thắng để làm gì? Chiến lược của chúng ta bị chia cắt: Quân đội làm một việc, Chính trị làm một việc khác. Đó là vấn đề của nền Dân Chủ, như hiện nay chính phủ Trump bỏ bom Ba Tư nhưng đảng Đối Lập lại công kích tìm cách ngăn chận. Và quan trọng hơn: công chúng Mỹ dần mất niềm tin với phong trào phản chiến được sự hổ trợ của tình báo Liên Xô. Khi chúng ta thấy Jane Fonda, Joan Baez đến Hà Nội ngồi trên súng phòng không bắn hạ các phi công Hoa Kỳ. Khi điều đó xảy ra, kết quả gần như đã được quyết định.


Ông ta nói đến sự 30/4/1975. Nhiều người nghĩ rằng sự sụp đổ năm 1975 là đột ngột. Nhưng từ góc nhìn của ông ta và từ tài liệu phía Bắc, điều đó không hề bất ngờ. Hà Nội bắt đầu bằng một bước rất thông minh: tấn công Phước Long. Nhớ dạo ấy mình đang có mặt ở Sàigòn, chuẩn bị đi Tây, thấy thiên hạ đi biểu tình, giăng biểu ngữ toàn dân cùng với dân Phước Long này nọ. Để quan sát phản ứng của Mỹ và khi không có phản ứng… Hà Nội hiểu rằng:“Cơ hội đã đến. Thời cơ đã chín muồi” Khi hiệp định Paris kết thúc với bộ đội miền bắc vẫn được phép ở lại miền nam thì xem như sự kết thúc Việt Nam Cộng Hoà chỉ là ngày tháng. Ông Thiệu đã chống đối dữ dội vụ này nhưng không có chọn lựa.


Nên nhớ dạo ấy ông Nixon, người đã hứa bú xua la mua, với ông Thiệu là sẽ bỏ bom Hà Nội này nọ nếu họ vi phạm hiệp định, nghe kể không biết có thật hay không vì bằng miệng. Đúng lúc ông thần này bị Watergate nên cuối cùng từ chức. Ông chủ tịch quốc hội Gerald Ford lên thay thế thì chới với, quốc hội không muốn viện trợ cho Việt Nam Cộng Hoà nữa. Nghe ông Đinh Văn Đệ, nằm vùng, được quốc hội Việt Nam Cộng Hoà cử đi xin viện trợ, ông này lại nói với đại biểu Hoa Kỳ quá muộn. Mình đọc trên báo Việt Cộng phỏng vấn ông ta có bí danh gì quên. Việt Nam Cộng Hoà họp về quân sự đều có mặt ông ta nên chuyển tin tức cho Việt Cộng hết. Chán Mớ Đời 


Sau đó mọi thứ diễn ra rất nhanh. Khi Cao Nguyên vùng hai chiến thuật sụp đổ: Quân đội Việt Nam Cộng Hoà mất tổ chức, Dân thường hoảng loạn bỏ chạy theo lính rút quân, lãnh đạo mất kiểm soát, và điều quan trọng nhất: Niềm tin biến mất. Một khi binh sĩ không còn tin rằng họ có thể thắng…thì cuộc chiến thực chất đã kết thúc.


Trong lúc Đà Lạt bỏ ngõ, gia đình mình di tản về Sàigòn qua ngõ Phan rang rồi Bình Tuy, binh sĩ hay sinh viên trường võ Bị cũng bỏ chạy theo lệnh rút quân. Có chị bạn ở Đà Lạt cho biết là trước mấy ngày Đà Lạt bỏ ngõ thì có một người em bà con của ông bố, ngoài bắc được người Đà Lạt nằm vùng dẫn đến nhà nói chuyện. Có lẻ vì vậy ông bố quyết định ở lại. Ông bố này thuộc loại đại gia Đà Lạt khi xưa nên chắc cũng có đóng góp cho cách mạng nên sau 75 được tuyên dương là tư sản dân tộc này nọ rồi bị đánh tư sản. Cuối cùng bỏ của chạy lấy người đưa cả gia đình vượt biển hết.


Trong chiến dịch Frequent Wind, chúng ta thấy hình ảnh trực thăng trên nóc tòa nhà, di tản người Mỹ ra khỏi Việt Nam Cộng Hoà. Nhiều người nghĩ đó là thất bại về quân sự. Nhưng thực ra, đó là: Thất bại trong dự đoán, trong việc hiểu tốc độ sụp đổ. Mọi thứ diễn ra nhanh hơn tất cả những gì chúng ta chuẩn bị. Tương tự khi tổng thống Biden ra lệnh rút quân khỏi Á Phủ hãn, người dân cũng bỏ chạy trước bước tiến của Taliban. Súng ống để lại cho Ba Tư xài bắn máy bay mỹ.


Chiến tranh không chỉ là: Súng, Bom hay số lượng quân mà chiến tranh là: Ý chí, Chiến lược và khả năng hiểu đối phương. Chúng ta không thua vì không đủ mạnh. Chúng ta thua vì không hiểu đúng cuộc chiến mà mình đang tham gia. Chúng ta thấy BA Tư ngày nay, bom rơi banh ta lông nhưng vẫn kiên cường chống đế quốc sa tan.


Ông ta cho biết nếu chúng ta muốn học lịch sử, không chỉ là Việt Nam, mà bất kỳ cuộc chiến nào, xin hãy nhớ điều này: chúng ta phải nhìn từ cả hai phía. Nếu không, chúng ta chỉ đang nhìn một nửa sự thật. Tương tự đồng bạc đều có hai mặt. Chúng ta phải quan sát cả hai bên. Mình đọc tài liệu của Hà Nội thì trong thời kỳ chiến tranh họ nghiên cứu tâm công của Nguyễn Trãi rất kỹ. Điển hình trong thế giới liên xô, chắc chắn là có sự chống đối, mầm mống phản động nhưng ít ai dám đưa mặt ra vì sẽ bị bỏ tù cải tạo. Ngược lại trong thế giới tự do thì các nước Tây Âu đều có đảng cộng sản hoạt động công khai và được pháp luật che chở mà ngay Ý Đại Lợi dạo ấy có đến 30% cử tri, Pháp có đến 25% cử tri bầu cho đảng cộng sản. Để hôm nào mình kể vụ này vì âu châu dạo đó như Pháp quốc có thể bị nội chiến vì người theo cộng sản rất đông.


Nhờ đó mà Hà Nội được sự tiếp sức của Mạc Tư Khoa, khuyến khích thanh niên Tây Âu xuống đường, ở Hoa Kỳ thì lộn xộn vì vụ Civil Rights do ông Martin Luther King Jr. Dẫn đầu xen kẻ với phong trào kháng chiến. Ông Ngô Vĩnh Long, con của bà Ngô BÁ Thành được nhóm thiên tả tuyển, cho qua Hoa Kỳ du học, thành lập báo chí chống Sàigòn đủ trò. Tương tự các sinh viên khác như sinh viên Nguyễn Thái Bình,… chưa kể ở miền Nam dạo đó mình đọc báo nghèo nói ký giả đi ăn mày, nằm vùng, mấy ông sư xuống đường tự thiêu này nọ.


Cứ tưởng tượng hàng ngày, xem truyền hình thấy chiếu cảnh dội bom napalm ở Việt Nam, dân tình bỏ chạy, người Mỹ đâu biết là người dân bỏ chạy vì sợ Việt Cộng mà nghĩ tại mỹ bỏ bom. Hay vụ Mỹ Lai, khi thấy hình ảnh đàn bà con nít bị quân đội mỹ giết, máu khắp nơi. Một tên sinh viên ở âu châu chắc chắn sẽ cảm thông và dần dần sẽ thiên về Hà Nội. Trở thành Việt kiều yêu nước. Trong khi đó các hình ảnh Mậu Thân tại Huế, Việt Cộng tàn sát mấy ngàn người trong vòng mấy tuần chiếm đóng, không ai biết. Tuyệt nhiên không có chiếu cho người Mỹ hay tây phương xem. Ngày nay thì bắt đầu có nghe truyền thông mỹ nói đến nhưng rất ít. Khi mình nói chuyện với người Mỹ về Mậu Thân, họ chỉ nhớ Việt Cộng đánh vào toà đại sứ mỹ chớ chưa bao giờ nghe đến vụ thảm sát mấy ngàn người tại Huế.


Trong khi chính phủ, lãnh đạo của Hà Nội được duy trì hoài, còn Hoa Kỳ thì cứ 4 năm bầu lại tổng thống và 2 năm bầu lại quốc hội nên chính sách không được định hướng lâu dài hoàn toàn như Hà Nội. Trong những buổi nói chuyện của ông giáo sư, mình thấy cần đưa thêm tiếng nói của người theo Việt Nam Cộng Hoà, và Mặt trận Giải pHóng Quốc Gia.


Tại sao Việt Nam Cộng Hoà chống lại Hà Nội, vì không muốn xây dựng Việt Nam theo mô hình xã hội chủ nghĩa mà ngày nay chúng ta thấy lý do. Thiên hạ hay chửi mấy người theo Mặt Trận Giải Phóng, nhưng cũng nên cho họ tiếng nói. Họ phát sinh từ đối lập, và sợ bị bắt nên trốn vào Bưng, tổ chức này do Hà Nội tổ chức để lấy danh nghĩa cho cuộc chiến. Chúng ta thấy khi 300,000 người miền Nam tập kết ra bắc, Hà Nội đã bố trí người ở lại miền nam để thành lập cục R, để đánh phá miền Nam. Sau 75 thì thành viên của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam hay chính phủ cách mạng lâm thời chi đó bị Hà Nội dẹp qua một bên. Lúc đầu họ để Nguyễn Hữu Thọ và Nguyễn Thị Bình sống sót vì Madame Bình được ngoại quốc biết đến, nể nang khi hoà đàm Paris. Còn thì bị dẹp tiệm hết như tướng Trần Văn Trà,…


 (còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn