Hiển thị các bài đăng có nhãn Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng

Rockefeller và y học hiện đại

 Rockefeller và y học hiện đại 

Hoa Kỳ bắt cóc ông Maduro và dầu từ Venezuela được chở qua Hoa Kỳ để lọc. Thiên hạ chê, nói dầu của xứ này nặng nề này nọ nhưng họ quên một vấn đề chính. Các loại khoáng chất còn lại sau khi được lọc, có giá trị kinh tế của nó rất nhiều so với với xăng nhớt.


Năm 1900, ông John D. Rockefeller kiểm soát khoảng 90% toàn bộ ngành lọc dầu tại Hoa Kỳ. Ông là người được cho là cá nhân giàu nhất từng sống trên Trái Đất theo một số tính toán cộng lạm phát.


Ông gặp phải một vấn đề, làm gì với những xác dầu sau khi lọc. Đem quăng cũng là một vấn đề vì tốn tiền và làm hại môi trường. Các nhà khoa học đang phát hiện ra rằng các hợp chất chiết xuất từ hắc ín than đá, một sản phẩm phụ của ngành dầu mỏ có thể được dùng làm thuốc tổng hợp. Aspirin, được chiết xuất từ hắc ín than đá, đã được Bayer ra mắt năm 1899. Các bác nào mà uống thuốc viên là nó đó. Dòng chất thải từ dầu mỏ mà Rockefeller trước đây phải tiêu hủy giờ có thể được bán lại cho công chúng dưới dạng thuốc với mức lợi nhuận khoảng 10,000%. Chưa kể dầu ăn mà mình đã kể. Người ta kêu lý do đó mà người Mỹ bị ung thư và to béo như ngày nay. Khi ăn hay uống vào các cặn dư biến chế của dầu hoả được bơm lên và thanh lọc.


Ông lại gặp thêm một vấn đề khác. Y học Mỹ năm 1900 là một hệ sinh thái cạnh tranh gồm các thầy thuốc vi lượng đồng căn, thảo dược, naturopath, osteopath, hộ sinh và các bác sĩ truyền thống sử dụng thực phẩm, cây cỏ, nước và lối sống làm công cụ chữa bệnh chính. Khoảng một nửa số trường y ở Mỹ dạy một hình thức y học tự nhiên hoặc thay thế nào đó. Muốn bán thuốc của ông ta thì phải nắm đầu ngành y học, dạy cho các bác sĩ tương lai là phải cho bệnh nhân uống thuốc của ông ta.


Rockefeller đầu tư vào ngành dược phẩm Đức, cuối cùng nắm cổ phần đáng kể trong IG Farben, tập đoàn khổng lồ bao gồm Bayer, BASF và Hoechst. Sau đó ông ủy thác, đúng hơn là mướn một người soạn thảo một báo cáo.


Báo cáo được Abraham Flexner, một nhà giáo dục không có được đào tạo y khoa soạn thảo, do Quỹ Rockefeller và Carnegie tài trợ, và được công bố năm 1910. Báo cáo tuyên bố rằng các trường y tự nhiên và thay thế là “lang băm thiếu khoa học”. Và đề xuất đóng cửa hơn một nửa số trường y Mỹ và chuẩn hóa phần còn lại xung quanh y học dựa trên thuốc tổng hợp có bằng sáng chế. Khởi đầu sự kiểm soát của các công ty dược phẩm lên nhân loại.


Quốc hội hành động theo lời đống góp quỹ bầu cử cuả các công ty dược phẩm. Một nửa số trường y Mỹ đóng cửa trong vòng một thập kỷ. Các trường còn lại chấp nhận tài trợ từ Rockefeller và Carnegie với điều kiện phải tổ chức lại chương trình giảng dạy xung quanh điều trị bằng dược phẩm. Dinh dưỡng bị loại bỏ. Thuốc từ thảo dược bị loại bỏ. Can thiệp lối sống bị loại bỏ. Công việc của bác sĩ được định nghĩa lại: chẩn đoán triệu chứng, kê đơn thuốc.


Và bài hoc đầu tiên ở trường thuốc là “một bệnh nhân được chữa trị là mất một khách hàng” do đó phải nuôi bệnh. Bắt chúng uống thuốc cả đời. Cứ 3 tháng đến phòng mạch, ký cho cái toa đi mua thuốc uống, bỏ túi vài trăm. ObamaCare càng tốt vì mỗi tháng chính phủ tự động trả tiền cho mình dù bệnh nhân không đến. Có anh bạn bác sĩ giải thích lý do khi Obama Care ra đời, các văn phòng y khoa kêu người việt ghi tên các văn phòng của họ.


Những loại thuốc đó được chiết xuất từ dầu mỏ. Dầu mỏ được cung cấp bởi các nhà máy lọc dầu do Rockefeller kiểm soát. Các trường y được Rockefeller tài trợ. Các tạp chí y khoa được Rockefeller tài trợ. AMA được Rockefeller hỗ trợ, các bệnh viện được Rockefeller tài trợ. Khi tài trợ thì họ kiểm soát. Ai buồn đời vào các trang nhà của các hội y sĩ hay chống ung thư này nọ, sẽ thấy các công ty thực phẩm, dược phẩm tài trợ đầy thì làm sao chữa bệnh ung thư. Khi họ quảng cáo ăn các sản phẩm mà khoa học gia kêu gây bệnh ung thư.


Mấy anh Ấn Độ hay ba tàu đều có nơi để thanh lọc dầu cặn để làm thuốc bán cho người Mỹ với giá hữu nghị. người Tàu muốn bá chủ thế giới, không biết họ bỏ cái gì trong các viện thuốc bán cho người Mỹ. Vì chính họ sản xuất Fentanyl rồi đưa qua các anh Mễ, chuyển vào Hoa Kỳ để bán đầu độc người Mỹ, huỷ hoại xã hội đế quốc đang dãy chết.


Đến năm 1925, hệ thống y tế Mỹ đã trở thành một phần mở rộng tích hợp dọc của ngành công nghiệp dầu mỏ, hoạt động dưới khẩu hiệu marketing rằng đây là y học “khoa học”. Đây chính là hệ thống vẫn tồn tại cho đến ngày nay.


Ngành công nghiệp dược phẩm tạo ra khoảng 1,5 nghìn tỷ USD doanh thu mỗi năm. Dân số Mỹ, chiếm 4% dân số thế giới, tiêu thụ khoảng 50% tổng số dược phẩm được sản xuất trên toàn cầu. Hàng ngày chúng ta thấy quảng cáo khắp nơi về thuốc than. Cứ mua uống vì tin sẽ giúp cho sức khoẻ. Nhớ có lần đọc tin tức rồi video của một ông bác sĩ nói chữa bệnh bú xua la mua, cuối cùng ông ta bán thuốc của ông ta hay ai đó. Mình xem thì hoá ra họ lấy nước dừa và cốt nước dừa để làm. Vậy ra bolsa mua dừa về uống và ăn rẻ hơn. Không bị hoá chất bú xua la mua. Thật ra đọc tin tức của họ cũng hay nhưng đừng mua thuốc của họ. Nếu là tốt thì công ty dược phẩm đã mua bằng và cất vì một bệnh nhân khỏi là mất đi một khách hàng.


Hệ thống này không được thiết kế để làm cho con người khỏe mạnh. Hệ thống được thiết kế để quản lý triệu chứng theo cách tạo ra những khách hàng trọn đời. Một bệnh nhân khỏe mạnh là mất một khách hàng. Một bệnh nhân được “quản lý”, người phải uống thuốc mỗi ngày suốt phần đời còn lại, chính là một khoản đầu tư sinh lời đều đặn. ATM mỗi tháng. 


Mục tiêu từ đầu đến cuối là giữ bệnh nhân nằm trong hành lang sinh lời đó giữa khỏe mạnh và chết. Lâu đủ để bạn tiếp tục mua thuốc. Nhưng không khỏe đến mức bạn ngừng mua. Đó là thực tế ngày nay trên thế giới.


Bác sĩ khuyên bệnh nhân nên chữa lành chuyển hóa bằng cách thay đổi chế độ ăn uống, theo quan điểm của hệ thống đã đào tạo ông ta, là một sản phẩm lỗi. Bác sĩ kê cho bệnh nhân statin, metformin, thuốc chống trầm cảm và thuốc huyết áp dùng suốt đời mới là người đang thực hiện đúng như hệ thống thiết kế.


Hệ thống được thiết kế bởi một ông trùm dầu mỏ cần bán các sản phẩm thải của nhà máy lọc dầu mình. 116 năm sau Báo cáo Flexner, vẫn hoạt động chính xác như cách ông ta đã thiết kế. Bệnh nhân là khách hàng. Bài học đầu tiên của trường y là “chữa lành một bệnh nhân là chúng ta mất một khách hàng”.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Chuyến bay Air Việt Nam định mệnh và ý chí của sự sống còn

 


Chuyến bay định mệnh và ý chí của sự sống còn


Lâu rồi hình như mình có đọc bài của ai kể là khu vực vùng Phan Rang, Nha Trang Khánh Hoà có một vùng dễ bị rớt máy bay nên ông ta không dám bay vào vùng này. Hôm nay nhận được một bài của một ông thần quen trên mạng, gửi cho một bài kể về một cô gốc Hoà Lan, làm việc ngân hàng ở Hương Cảng, đi chơi ở Việt Nam với bạn trai để tạo những kỷ niệm đẹp lãng mạn để sau này hát người con gái không cần dĩ vãng, chỉ còn mối tình mang theo thì chiếc phi cơ của hãng hàng không Việt Nam chắc máy bay của Nga vì năm 1992, bị rơi trên từ Sàigòn bay đến Cam Ranh. Cả máy bay chết hết chỉ có cô ta sống sót. Kinh. 


Năm 1992 là năm em về Việt Nam lần đầu sau khi nghe tin ông cụ ra trại cải tạo. Chỉ đi máy bay đến Sàigòn thôi còn đi xe thuê bao lên Đà Lạt. Nhưng lần sau mới đi máy bay lên Đà Lạt cho nhanh vì ngồi xe mất cả ngày.


Nếu chúng ta từng bị trục trặc khi đi chơi, cảm thấy chuyến đi của mình “toang” vì chuyến bay bị trễ, khách sạn hết phòng, cà phê nguội ngắt giọt đắng thì nên đột phá tư duy, hít một hơi sâu và nhớ đến câu chuyện của cô Annette Herfkens. Bởi vì vào năm 1992, kỳ nghỉ lãng mạn với mối tình hữu nghị sông liền sông ở hương Cảng nơi cô ta làm việc với một ông cùng sở của cô không chỉ “trục trặc” mà là trục trặc ở cấp độ khá đặt thù. Với rừng rậm sinh tồn dù chưa bao giờ cô ta tham gia qua một kỳ huấn luyện của lực lượng đặc biệt. Bằng cách nào đó, cô vẫn sống sót. Không chỉ sống sót, mà còn với một sự bình tĩnh đến mức khiến phần còn lại của chúng ta trông như sẽ hoảng loạn chỉ vì mất Wi-Fi 5 phút. Nhớ khi xưa có xem phim một chiếc máy bay rớt trên núi Andes và những người sống sót phải ăn thịt các hành khách khác để sống sót. Kinh

Câu chuyện của cô, được kể trong Turbulence: A True Story of Survival, bắt đầu như nhiều bi kịch vĩ đại khác: bằng tình yêu, nói nhẹ Tây là commencer par l’amour. Cô Annette và người bạn trai Willem đang trên đường đến Việt Nam cho một kỳ nghỉ nâng cao tình yêu đôi lứa đáng lẽ phải rất đẹp. Để đánh dấu mối tình hữu nghị với tính cách lãng mạn như trong xi-nê với nhìn hoàng hôn, bãi biển, có thể thêm vài ly cocktail hơi mắc tiền. Họ đột xuất tư duy khi nghe bài hát Nha Trang ngày về mình tôi trên bãi khuya nên quyết định bay từ Sàigòn ra Nha Trang. 


Nhưng thay vào đó, nhờ sự kết hợp “hoàn hảo” giữa thời tiết xấu và sai sót con người, chiếc máy bay của họ, Vietnam Airlines Flight 474, quyết định “làm quen” với một sườn núi. Hình như sương mù. Có chiếc trực thăng của quân đội Việt Nam bay đến vùng này để tìm kiếm chiếc máy bay nhưng cũng rớt luôn, do đó mình nhớ có nghe ai nói đến vùng này đã có vấn đề trước 75. Ai nhớ thì cho em xin lý do. Em nghe vụ này trên 40 năm nên không nhớ rõ lý do.


https://en.wikipedia.org/wiki/Vietnam_Airlines_Flight_474


Thông thường, khi gặp tai nạn máy bay, đa số mọi người sẽ… không sống sót. Được cái là máy bay rớt trên các ngọn cây nên sự đụng chạm tương đối bớt mạnh hơn là chạm đất. Nhưng cô Annette, rõ ràng, đã không nhận được thông báo đó từ PA, của tiếp viên trưởng là đeo mặt nạ oxy gì vào như mỗi lần máy bay sắp cất cánh là thấy tiếp viên hàng không cứ ra hiệu kéo dây thòng xuống.. 


Có lẻ chưa tới số hay thánh Phao Lồ không cho vào cổng thiên đường nên trở lại nhân thế. Chiếc máy bay này nhỏ, 3 động cơ nghe nói đâu có 23 hành khách và phi đoàn có 6 người. Mình nhớ có lần bay từ Boston qua Ottawa, đi máy bay hai chong chóng khiến mình thất kinh. Máy bay cũ khi xưa hành khách đi được xem là sang nhưng sau khi ngồi Boeing 747 thì thấy sợ.

Máy bay trên đường đáp xuống phi trường, đụng cây nên phi công mất tay lái không lên lại được và tuông luôn. Khi cô tỉnh dậy giữa rừng, bị thương, xung quanh là xác máy bay và quan trọng nhất không hề có đồ cấp cứu. Nghe nói có vài người sống sót bị thương nặng nhưng cứu hộ đến trễ nên họ qua đời luôn, ngoài trừ cô này. Chấn thương của cô rất nghiêm trọng: gãy xương, tổn thương nội tạng, và đủ đau đớn để khiến bất kỳ người bình thường nào cũng muốn nằm xuống và “diễn sâu” lần cuối. Nhưng cô Annette đã làm một điều rất bất ngờ. Cô không la hét. Không hoảng loạn. Thậm chí cũng không độc thoại về số phận.


Thay vào đó, cô nghĩ: “Được rồi. Bước một: đừng chết.” Hóa ra, đây là một chiến lược cực kỳ hiệu quả. Ý chí muốn sống rất quan trọng, muốn vượt qua để tồn tại sống còn. Sáng hôm qua mình cho mọi người tập Trạm Trang Công 30 phút, nhưng họ đứng hết 30 phút. Tại vì khi chúng ta luyện ý chí mạnh thì khi đau ốm, sẽ có ý chí vượt khỏi để chữa bệnh còn nếu không thì sẽ buông xuôi. Mình thấy nhiều người bệnh đến Đông Phương Hội nhờ Khoa chữa bệnh nhưng rồi họ không chịu tập tành gì cả để tạo dựng lại sức mạnh, cứ thích mì ăn liền. Kiếm thuốc tiên như Tần Thuỷ Hoàng. Rồi bỏ cuộc.


Trong tám ngày, cô Annette nằm lại trong rừng Việt Nam, không thể đi lại, sống nhờ nước mưa mà cô hứng được bằng các mảnh vỡ của máy bay. Nhịn đói 8 ngày thì được nhưng cần nhất là uống nước. Mình hay nhịn đói 12 ngày nhưng bắt buộc phải uống nước. 


Nhưng điều đáng nể nhất không phải là thể chất mà là tinh thần. Cô Annette mô tả trạng thái tâm trí của mình như một sự bình tĩnh kỳ lạ, gần như kiểu “làm việc chuyên nghiệp”. Không kịch tính, không hoảng loạn kiểu phim ảnh. Mình nghĩ khi nhịn đói thì neuron của cô ta làm việc hăng say nên bình tỉnh. Người ta giải thích khi xưa, tổ tiên chúng ta đi săn, khi đói thì mới đi săn và lúc đó tâm trí rất sáng suốt để có thể săn thú được. Mình nhớ nhịn đói độ ngày thì 8 trở lên thì tinh thần rất sáng suốt. Cô không nghĩ về toàn bộ thảm kịch (bao gồm cả mất mát người cô yêu). Thay vào đó, cô thu nhỏ thế giới của mình lại thành những nhiệm vụ đơn giản:


Uống đủ nước.  

Giữ tỉnh táo.  

Sống đến cơn mưa tiếp theo. Hy vọng cấp cứu sẽ đến sớm. 


Đây có lẽ là danh sách “to-do list” căng thẳng nhất trong lịch sử. Trong lúc đó, khu rừng thì đóng vai một chủ Airbnb ngoài trời cực kỳ khó chịu. Nóng, ẩm, côn trùng, đặc biệt là muỗi, mà với sự nhiệt tình của chúng, rõ ràng đã chờ sẵn một “bữa tiệc banker châu Âu”. Không biết có vắc ở vùng này hay không chớ dạo mình đi Sơn Đoòng thì có hai người bị vắc bu như vắc. Vậy mà cô Annette vẫn chịu đựng được. Không thuốc chống muỗi. Không đồ ăn vặt. Không podcast truyền động lực. Chỉ có ý chí sống và một quyết tâm rất… không muốn chết một cách lãng xẹt trong rừng già Việt Nam. Ông cụ mình khi xưa bị bệnh sốt rét sau nhưng năm ở quán ngủ, phải uống thuốc quinine mệt thở. Sau này lại ở trại cải tạo. 


Điều làm câu chuyện này đặc biệt không chỉ là việc cô sống sót mà là cách cô sống sót. Không có cảnh chạy xuyên rừng như phim hành động, không đánh nhau với thú hoang, không dựng bè bằng dây leo rồi phát biểu truyền cảm hứng hay live stream. Chiến lược của cô đơn giản hơn nhiều:


Làm ít lại. Nghĩ rõ ràng. Đừng làm tình hình Chán Mớ Đời hơn.


Nếu bị thả vào rừng, nhiều người sẽ ngay lập tức thử làm điều gì đó hoành tráng nhưng sai lầm như cố đi bộ với xương gãy hoặc hét cho đến khi mất nước. Cô Annette thì khác. Cô tiết kiệm năng lượng như một nhân viên ngân hàng kỳ cựu né tránh những cuộc họp không cần thiết. 


Sau tám ngày, đội cứu hộ cuối cùng cũng tìm thấy ra hiện trường. Và ở đó họ tìm thấy người sống sót độc nhất là cô. Gần như kiệt sức, nhưng rõ ràng vẫn còn sống. Chúng ta có thể tưởng tượng sự bối rối của đội cứu hộ: “Chúng tôi đến để tìm thi thể… sao lại có người chưa chịu ‘hợp tác’ với hoàn cảnh thế này?”


Sự sống sót của cô thật sự phi thường. Bác sĩ kinh ngạc. Về mặt thống kê, logic, thực tế thì cô không thể sống. Nhưng cô đã sống.


Phần cuối của Turbulence nói về một điều không kém phần khó khăn: sống tiếp sau khi đã sống sót. Cô Annette phải đối mặt với mất mát, hậu chấn tâm lý, và cảm giác tội lỗi của người sống sót. Nay cô ta sống ở New York, có con. Cuốn sách không né tránh và nói lên điều đó. Nhưng từ đó, cô rút ra một bài học mạnh mẽ:


Con người mạnh mẽ hơn họ nghĩ, đặc biệt khi họ ngừng hoảng loạn và bắt đầu suy nghĩ. Vì vậy, lần tới khi cà phê của chúng bị pha sai, điện thoại hết pin, hay chuyến bay bị hoãn, hãy nhớ đến cô Annette Herfkens giữa rừng. Không thức ăn. Không trợ giúp. Xung quanh là thảm họa. Nhưng vẫn bình tĩnh nghĩ: “Được rồi. Cố gắng đừng làm mọi thứ Chán Mớ Đời hơn.”


Hóa ra, sống sót không phải là người mạnh nhất hay nhanh nhất. Mà là người, khi mọi thứ sụp đổ, vẫn có thể bình tĩnh nói: “Ừ… đừng làm mọi thứ te tua thêm nữa.” Tinh thần lạc quan sẽ giúp chúng ta vượt qua những trở ngại trước mắt vì sau cơn mưa trời lại sáng. Vấn đề là mưa rơi đến bao giờ. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

chiến dịch Tailwind hay Thung Lũng Tử Thần

 16 lính lực lượng đặc biệt của chiến dịch Tailwind


Mình hay vào các nhóm cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam để đọc những gì họ kể về thời chính chiến của họ tại Việt Nam cũng như còm khi thấy tin tức họ đưa không chính xác lắm. Hôm nay đọc được một nhóm 16 lính lực lượng đặc biệt của họ đột kích vào Hạ Lào cùng với lực lượng dân sự chiến đấu gốc thượng đâu 110 người thấy lạ lạ vì khi họ xâm nhập vào Hạ Lào là bí mật, không bận áo quần lính Mỹ, bị bắt cũng kêu không phải lính Mỹ vì nước Lào là trung lập Hoa Kỳ không được đánh đấm gì cả. Em xin tóm tắt lại đây. 

Không biết mình xoá đâu tấm ảnh. Nhóm này hình như llđb của Úc Đại Lợi. Có dịp mình kể về nhóm người úc này. Hình như Việt Cộng sợ họ hơn là lính mỹ. Vì nhóm này được từng huấn luyện đánh du kích với cộng sản tại Mã Lai dưới sự chỉ đoạ của người Anh quốc. Việt Cộng cũng sợ lính Nam Hà. Có dịp mình kể. Đọc tài liệu thấy kinh.

Theo mình hiểu là lực lượng đặc biệt Mỹ hay đóng đồn tại các điểm quan trọng dọc biên giới với các người thượng mà người Việt gọi là Dân Sự Chiến Đấu. Thiếu tá Phong của tiểu đoàn 204, Đại đội trinh sát 302, trước khi về Đà Lạt thì đóng ở trại lực lượng đặc biệt ở vùng tam biên, Bến Hét, nơi có hiểu người thượng sống với vợ con trong đồn. Mình có thấy nhìn tấm ảnh ở Ben Hét, thấy vợ con lúc nhúc bên cạnh. 


Trong cuộc chiến Việt Nam nước Lào và Cam bốt tuy trung lập nhưng lại để bộ đội cụ hồ sử dụng lãnh thổ của họ để đưa quân và súng đạn vào chiến trường miền nam. Từ đường mòn HCM đến hải cảng Sihanoukville. Việt Nam Cộng Hoà và Hoa Kỳ bị bó tay vì muốn tôn trọng công ước quốc tế khác với Hà Nội. Do đó Hoa Kỳ hay cho lực lượng đặc biệt xâm nhập vào Hạ Lào để theo dõi quá đội của Hà Nội nhưng phải bí mật. Tương tự trước khi đánh chiếm Iraq, Á Phú Hãn,..  lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ đều được thả vào mấy xứ này trước khi đánh vào. Mình nghĩ trước khi đánh Ba Tư, Hoa Kỳ cũng cho biệt kích của họ xâm nhập vào xem xét tình hình và báo cáo trước khi Mỹ và do thái dội bom. 


Mình có xem một phim tài liệu kể một toán SAS của Anh quốc được thả vào Iraq tham thính rồi bị một đứa bé chăn cừu phát hiện. Họ không nở ra tay giết đứa bé thì đứa bé chạy về làng báo cáo và cả trung đoàn lính Iraq bao vây và bắt sống vài người cùng như giết một số. Mình đoán ngày nay biệt kích mà gặp trưởng hợp tương tự chắc họ sẽ giết hết để trừ hậu hoạn. 


Cuộc hành quân này không phải là một đội trinh sát nhỏ như thường lệ mà bao gồm 16 lính lực lượng đặc biệt và 110 lính gốc thượng du Việt Nam. Theo mình hiểu biệt kích của Mỹ thường đi từng nhóm nhỏ độ 6 người nên khi đi 16 người là chiến dịch lớn. 


Cả nhóm này được trực thăng bốc gần Dakto trên cao nguyên trung phần, sử dụng trực thăng CH-53 Sea Stallion hạng nặng . Mục đích chính của chiến dịch tìm cách đánh lạc hướng 30,000 bộ đội bác hồ cho một cuộc hành quân khác do CIA đang thực hiện trong vùng. 


Ngày 11 tháng 9 năm 1970. Từ Dakto đến điểm xuất phát, Cao nguyên Trung phần, Việt Nam Cộng hòa. Không khí trên sân bay không có mùi thơm không khí buổi sáng mà mang mùi nhiên liệu JP4 hàng không, mồ hôi lâu ngày và mùi kim loại sắc nhọn của dầu súng. Đó là một dung dịch nặng nề, ngột ngạt bám vào cổ họng. 16 người Mỹ đứng trong bóng của những chiếc trực thăng CH-53C Stallion khổng lồ.


Họ không giống những người lính bóng bẩy trên các bảng quảng cáo tuyển mộ ở Mỹ. Bộ đồ ngụy trang sọc hổ của họ đã phai màu, dính đầy đất sét đỏ của vùng Cao nguyên. Những chiếc ba lô không phải loại tiêu chuẩn. Chúng được cải tiến, nặng hơn 80 pound. Rất nặng. Mình đi bộ 375 km ở Ý Đại Lợi đeo theo có 20 cân anh đã thấy oải đây gấp 4 lần.


Họ mang theo súng máy RPD cưa ngắn, súng carbine CAR-15, và đủ lựu đạn phân mảnh để san bằng một khu phố. Họ là những người của MACV-SOG. (Military Assistance Command, Vietnam Studies and Observations Group). Tên gọi che đậy gợi ý nghiên cứu học thuật. Thực tế là sự phủ nhận được viết bằng máu của người lính kiên cường. 


Trong số họ có Đại úy Gene McCarley. Ông là One Zero. Người chỉ huy đội. Ông kiểm tra đồng hồ. Ông nhìn sang các chiến binh bản địa đứng bên cạnh người Mỹ. Có 110 người. Người Montagnard, tên do người Pháp đặt tên, những người sống trên núi. Họ là các bộ tộc miền núi của Việt Nam. Những người coi rừng rậm không phải là môi trường thù địch mà là ngôi làng bị xâm lược. Họ căm thù Quân đội Bắc Việt với lòng thù hận qua nhiều thế hệ.


Hôm nay, McCarley và 16 lính llđb cùng với đại đội lính đánh thuê Montagnard này đang thực hiện một chiến dịch mà về mặt kỹ thuật là chưa từng xảy ra. Theo các bản đồ chính thức ở Washington DC và theo các buổi họp báo dành cho công chúng Mỹ, không có quân chiến đấu Mỹ nào ở Lào. Mình có kể một căn cứ biệt kích Mỹ ở Hạ Lào mà quân đội Mỹ dùng làm điểm để hướng dẫn B 52 thả bom tại miền bắc Việt Nam sau đó bị đặc nhiệm chiếm đóng. 


Thông tin bổ sung chi tiết về Operation Tailwind (Chiến dịch Đuôi Gió). Operation Tailwind là một cuộc đột kích bí mật xuyên biên giới do MACV-SOG thực hiện từ ngày 11–14 tháng 9 năm 1970 (một số tài liệu ghi chính từ 11–13). Đây không phải là đội trinh sát nhỏ (RT team) mà là một lực lượng Hatchet Force cỡ đại đội — một đơn vị đột kích lớn.


Lực lượng gồm 16 lính biệt kích Mỹ (Green Berets) dẫn đầu 110 lính Montagnard (các bộ tộc miền núi khác), xuất phát từ gần Dak To, Cao nguyên Trung phần Việt Nam, bằng trực thăng CH-53 Sea Stallion của Thủy quân Lục chiến Mỹ.


Mục tiêu của chiến dịch nhằm tạo  sự phân tán các sư đoàn bộ đội bác hồ  bằng cách đột kích sâu vào đông nam Lào (khoảng 60–70 km về phía tây Dak To, gần Chavane và tuyến đường 165 Lào). Nhiệm vụ nhằm kéo lực lượng Quân đội Bắc Việt (NVA) đặc biệt là các đơn vị thuộc Nhóm Vận tải 559 bảo vệ Đường mòn Hồ Chí Minh khỏi một chiến dịch khác do CIA hỗ trợ liên quan đến lực lượng Hmong do tướng Vang Pao lãnh đạo ở Cao nguyên Bolovens phía bắc. Con số “30.000 bộ đội” trong một số kể lại phổ biến có thể là ước tính tổng lực lượng địch trong khu vực hoặc lực lượng bảo vệ Đường mòn có thể bị ảnh hưởng/chuyển hướng, chứ không phải đối đầu trực tiếp 30.000 quân tại một điểm. 120 mạng đâu có thể đánh lại 30,000 bộ đội ngoài trừ người Mỹ có anh hùng Lê Văn Tám. 


Các sự kiện chính được kể lại sau đây:

Ngày 11/9: Đổ bộ bằng trực thăng vào thung lũng, di chuyển mạnh để tiếp xúc và thu hút sự chú ý. Mình đoán biệt kích là âm thầm mà họ muốn Việt Cộng biết sự có mặt của họ. Thật ra có trên 120 người đi trong khu rừng thì chắc chắn ồn ào.

Giao tranh: Trong vài ngày, họ đụng độ nặng nề với Việt Cộng, chiếm một khu trại lớn và trung tâm hậu cần (hầm ngầm), tiêu diệt hàng chục lính Hà Nội (một con số ghi nhận 54 người trong một lần đột kích). Họ thu được lượng tình báo khổng lồ: hàng trăm trang tài liệu, bản đồ được coi là một trong những thu hoạch tình báo quan trọng nhất về Đường mòn Hồ Chí Minh từ đầu chiến tranh. Mình có người chú ruột bị chết trên đường vào nam tại vùng này. 


Hiệu quả phân tán: Thành công kéo sự chú ý và lực lượng NVA về phía nam, hỗ trợ cho lực lượng Hmong/CIA đang hoạt động trong vùng. 


Rút lui (13–14/9): Khi Việt Cộng tăng viện (pháo cối, súng máy), họ rút lui trong giao tranh. Sử dụng nhiều LZ nhỏ (bãi đáp) để đánh lừa kẻ địch. Hỗ trợ không quân mạnh mẽ: 72 phi vụ chiến đấu, bom, rocket, napalm. Một số trực thăng CH-53 bị hư hại hoặc mất.


Thương vong: Phía Mỹ và đồng minh: Tất cả 16 người Mỹ bị thương (tổng cộng khoảng 33 Huân chương Tím). 3 Montagnard tử trận, 33 bị thương.


Phía địch: Khoảng 144 Việt Cộng bị tiêu diệt trực tiếp bởi lực lượng mặt đất, ước tính thêm 50 bị thương và 288 bị không quân tiêu diệt.

Kết quả: Nhiệm vụ thành công, hỗ trợ CIA/Hmong, thu được tình báo lớn. Đại úy Eugene C. McCarley (sau này là Trung tá) chỉ huy, được đề cử Huân chương Thập tự Dũng cảm (downgraded). Y tá Gary Michael Rose sau này được trao Huân chương Danh dự (nâng cấp năm 2017) nhờ cứu chữa dưới hỏa lực.


Câu chuyện này nổi tiếng hơn sau báo cáo gây tranh cãi năm 1998 của CNN/Time (sau rút lại) cáo buộc sử dụng vũ khí hóa học (khí CS, không phải sarin). Các cựu binh sĩ bác bỏ mạnh mẽ.


Chiến dịch Đuôi Gió (Operation Tailwind), một tài liệu mật mới được giải mã gần đây về một chiến dịch bí mật được chỉ huy bởi MACV-SOG (Military Assistance Command, Vietnam – Studies and Observations Group) trong 4 ngày từ  11–14, tháng 9 năm 1970 (có tài liệu cho biết chỉ có 3 ngày 11-13). Theo lời kể thì sáng ngày thứ 3 của cuộc hành quân, lính phe ta tấn công một trại lính bộ đội và hạ sát 54 bộ đội. Họ không hiểu tại sao các bộ đội không rút lui, bỏ chạy thì khám phá ra một căn hầm nằm dưới 12 cao bộ. Trong đó bộ đội cất dấu bản đồ và tài liệu. Sau đó họ tấn công một bộ tư lệnh của bộ đội kiểm soát con đường quốc lộ Lào 165. Họ thu nhặt hết tài liệu đêm về và bắt đầu rút lui thì bộ đội bắt đầu bao vây. Ông McCarley chia ra 3 nhóm để đến 3 bãi đáp riêng biệt.


Vấn đề là năm 1998, CNN và Time Magazine cho ra đời một phóng sự về chiến dịch bí mật này và đặt tên là Thung Lũng Tử Thần. Họ cho biết là có sử dụng hơi ngạt mà chiến tranh quy ước cấm. Có người nói là có một đơn vị Hoa Kỳ xù thượng cấp chạy qua bên lào nên họ vào sào huyệt để xem, cho vị trí để máy bay bay đến xã hơi ngạt xuống, giết khá nhiều người trong làng. Sau này, bộ quốc phòng điều tra kêu không có, bắt CNN lên tiếng rút lại hình ảnh. Có ông Peter Arnett, phóng viên chiến trường nổi tiếng trên các mặt trận, hình như ông ta chết năm ngoái tại Nam Cali. Có dịp mình kể về ông này, vì ông ta phỏng vấn các tay tổ như Osama Bin Laden, Sadam Hussein,… khởi đầu ở Việt Nam 


Cuộc chiến có nhiều vấn đề được đặt lại với nền đạo đức hôm nay. Như vụ tàn sát Mỹ Lai do lính mỹ gây ra hay Việt Cộng chôn sống, giết người ở Huế năm Mậu Thân hay pháo kích dân tình chạy nạn năm 1972 trên đại lộ kinh hoàng. Tương tự tấm ảnh tướng Nguyễn Ngọc Loan xử tử tên Việt Cộng vừa giết nguyên một gia đình mà người con trai bị bắn sống sót, sau này làm đến chức tướng của quân đội Hoa Kỳ. Có lẻ thế hệ con mình không dính dáng vào chiến tranh nên có thể xoá mờ còn thế hệ của mình đã làm chứng nhân cuộc chiến nhất là năm Mậu Thân thì đời đời vẫn nhớ.


https://www.usni.org/magazines/proceedings/2001/september/cnn-three-years-after-tailwind


Để rảnh mình kiếm đọc các tài liệu mật được giải mã sau mấy chục năm để hiểu thêm về cuộc chiến khá phức tạp, để hiểu lý do Việt Nam Cộng Hoà và Hoa Kỳ thua. 


https://youtu.be/8OrywCT6Cao?si=6L3inKtT9VrLOZqU


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn