Hiển thị các bài đăng có nhãn Chốn cũ người xưa Đàlạt. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chốn cũ người xưa Đàlạt. Hiển thị tất cả bài đăng

Từ làng Ngọc Anh đến Đà Lạt

 Từ làng Ngọc Anh đến Đà Lạt 


Đà Lạt là một thành phố được xây dựng hoàn toàn từ đầu bởi người Pháp vì trước khi người Pháp khám phá ra vùng đất này thì vùng này chỉ là hoang vu đồi hạ đôi bờ cỏ xanh. Khi xây dựng thành phố buồn thì họ cần người Việt và người Tàu để phục vụ cho họ, giúp xây dựng thành phố nghỉ dưỡng với giấc mộng của toàn quyền Paul Doumer là thủ đô của Đông-Dương của Pháp quốc. Trong số những người đến đầu tiên là 100 người Việt khởi đầu. Ông ngoại của một anh bạn gần xóm Công Chánh Hai Bà Trưng, được xem là một trong số 100 người Việt đã đến định cư tại Đà Lạt. Nghe anh ta kể là có giấy khen chi đó của thị trưởng Đà Lạt khi xưa.

Tiệm Vĩnh Hưng của ông bà Võ Quang Tiềm, bên cạnh là tiệm vàng của ông bà Huỳnh Ngọc Suyền (Huỳnh Ngọc). Dãy phố này được ông thầu khoán Võ Đình Dung xây cất.

Đa số là những người đến đầu tiên là từ miền Trung, người Tàu từ Sàigòn, Chợ Lớn đến. Mình có tấm ảnh ở khu vực ấp Ánh Sáng ngày nay, có mấy tiệm tàu tạp hoá. Sau năm 1932, có lũ lụt cuốn trôi mất tiêu nhà cửa ở khu vực này vì nằm dưới cái đập, khiến 15 người dân bị lũ cuốn trôi. Sau này thì có ông Hoàng Trọng Phu, tổng đốc Hà Đông, đưa người từ Hà Đông, Nghệ An và Hà Tỉnh vào Đà Lạt để trồng rau cải cho người Pháp. Thời chiến tranh, các vùng xôi đậu, mất an ninh ở các xứ Quảng, người dân bỏ vào Đà Lạt rất đông. Tóm lại Đà Lạt có người đến từ miền trung đông nhất, sau đến miền bắc vì năm 1954, chính phủ Ngô Đình Diệm có đưa lên Đà Lạt một số đồng bào di cư từ miền bắc. Đặc biệt là vùng Bảo Lộc, Đức Trọng,..


Hình này chụp trước tiệm Hiệp Thạnh số 11 Duy Tân. Chụp khi cậu Võ Quang Miên về Đà Lạt, đến dượng Ân, rể ông Phúng, cạnh ông Phúng là bà Võ Quang Tiềm, cũng là chị ruột, đến bà Phúng, dì Thanh, hình như vợ cậu Miên rồi đến dì Bá con ông bà Tiềm


Trong số những người gốc Huế đến Đà Lạt những đợt đầu tiên có ông Võ Quang Tiềm. Ông Võ Quang Tiềm sinh năm 1902 tại làng Ngọc Anh, Phú Vang, Thừa Thiên. Dạo mình về Huế với mẹ mình, xe có chạy ngang làng nên mẹ mình chỉ đây là làng của Ôn Tiềm. Sau đó đến làng Dưỡng Mong của ông ngoại mình rồi đến làng An Lưu của mệ ngoại. 


Theo cậu Võ Quang Tri, con trai đầu của ôn Tiềm, kể cho mình là tên ông có nghĩa là “ánh sáng tiềm ẩn”. Cậu Tri mình chỉ gặp mặt có hai lần ở Paris khi cậu nghỉ hè về Paris thăm gia đình vì dạo ấy cậu làm việc cho cơ quan quốc tế ở Châu Phi. Sau này nhờ mạng xã hội nên cậu cháu có trao đổi tin tức gia đình cho nhau. Sau này, khám phá ra cậu đã qua đời trong mùa dịch covid. Còn cậu Miên thì dọn về miền nam nước pháp gần Nice, nghỉ hưu. Hy vọng lần sau về pháp sẽ ghé thăm cậu mợ và vợ của cậu Mạnh còn ông bà Phúng. 

Gia phả của ông bà Võ Quang Tiềm


Thật ra những người khi xưa, bỏ làng ra đi để mong đổi đời, kiếm miếng ăn, tương tự ngày nay, người Việt đi lao động quốc tế chính thức hay đi chui. Ông bà ngoại mình cũng bỏ làng đi vào Sàigòn kiếm cơm hết. Còn không thì chỉ có cách đi theo cách mạng để có cơm ăn và đợi ngày cách mạng thành công về phố, tịch thu tài sản thiên hạ làm giàu. Chán Mớ Đời 


Mình nghe trong gia đình kể thì ông Tiềm đi với một người anh vào Đà Lạt lập nghiệp, khởi đầu làm nghề thợ may. Ông Tư, anh của mệ ngoại mình vào Sàigòn kiếm cơm làm nghề thợ may, sau này nổi tiếng may áo dài cho tổng thống Ngô Đình Diệm, có tiệm may ở số 46 đường Thủ KHoa Huân, Sàigòn. Viết đến đây mình mới nhớ khi xưa mấy người Huế làm thợ may ở Đà Lạt khá nhiều như bác Đoàn Mừng, hay ông Thi ở đường Duy Tân hình như tên tiệm may Đặng Thi, đối diện đền An Lạc, Khu Phố I, nhìn xéo qua, bên cạnh tiệm bi-da. Tiệm này mình không dám đánh chỗ này vì sợ ông Thi báo lại cho ông bà cụ biết.


Sau này về Huế, lấy được người vợ, tên Nguyễn Thị TUyết, làng An Lưu, sinh năm 1906. Bà Tiềm là em hay chị bà con cô cậu với mệ ngoại mình, đem vào Đà Lạt. Từ đó bà Tiềm đem cả gia đình vào như người chị tên Dụ, ông Phúng và ông Đàng là hai người em trai vào Đà Lạt. Bà Dụ có hai người con mà mình gặp thời còn ở Đà Lạt, cậu Liễu bán thuốc cẩm lệ ở chợ Đà Lạt, nhà chỗ cái vườn cạnh đường băng qua từ đường Phan đình Phùng đến Hai BÀ Trưng chỗ cư xá Địa Dư và dì Tân, ở cư xá Công Chánh Đà Lạt, cạnh nhà ông Điện, bố của thầy Trịnh MInh Đức.


Nghe kể bà Tiềm vào Đà Lạt đi bán hàng khô ở chợ Đà Lạt, thời mới vào Đà Lạt cũng cực khổ lắm. Ông Phúng và ông Đàng cũng khởi nghiệp làm thợ may chắc được ông Tiềm dạy nghề. Dạo đó, người Pháp đang xây tuyến đường xe lửa từ Phan Rang lên Đà Lạt nên mấy anh em may áo quần sẵn rồi gánh xuống chỗ họ làm đường rày xe lửa để bán cho nhân công ở đây. Nghe nói phải đi bộ 3 ngày 3 đêm, chắc đêm ngủ lều. Từ từ mới có tiền và buôn bán thêm mấy thứ mà nhân công cần.


Tương tự mấy người từ Huế vào như ông Võ Đình Dung, ông Xu Tiếng, lúc đầu làm công trường cho tây rồi từ từ nghề dạy nghề nên sau này tự làm thầu khoán rẻ hơn người Pháp nên bị một cú suýt bị bắt. Mình có kể rồi. Đà Lạt có một ông cũng thầu khoán tên Đội Có, có dãy nhà ở khu Hoà Bình, ông ta làm cái hồ chỗ ty công quản nước nên dân Đà Lạt đặt tên hồ Đội Có. Ai có tin tức về ông này thì cho mình xin.


Mình nhớ khi xưa mỗi lần vào nhà ông bà Tiềm, tiệm Vĩnh Hưng (Vĩnh viễn Hưng thịnh do cậu Tri, con trai ông Tiềm giải thích cho mình) mình thấy mấy cái lu to đùng đựng rượu để bán cho dân Đà Lạt. Hình như ông ta có một nhà kho chứa rượu ở đường Hàm Nghi. Nhớ có ông nào quên tên, hình như cháu của ông Tiềm, làm tài xế chở đồ đi giao hàng. Mình có đến 1, 2 lần chi đó, nồng mùi rượu. Nghe nói ông ta có môn bài do người Pháp cấp nên chỉ có ông ta có thể làm đại lý mấy vụ này nên từ từ giàu to vì có những nơi như Đơn Dương, Di Linh, Bảo Lộc,…lên lấy hàng hay làm đại lý cho ông. Mẹ mình kể là khi lấy chồng, ông Tiềm kêu xuống Di Linh làm đại lý cho ôn. Ngoài ra ông có bán mấy đồ thủ công lưu niệm cho du khách, do người thượng làm như mấy cái gù, rựa, cung tên. Mẹ mình kể khi ông cụ làm việc ở Ban Mê Thuột thì lâu lâu bà cụ lên thăm, có mua đồ thủ công của người thượng ở đây đem về bán lấy tiền trả tiền máy bay. Ông Tiềm mua lại hết để bán trong tiệm.


Ông Tiềm thích ăn cá do mẹ mình kho nên lâu lâu kêu mẹ mình kho cho nồi cá. Mẹ mình mang ơn ôn Tiềm vì khi đi theo Việt MInh, bị bắt, ông Tiềm có tiếng tăm tại Đà Lạt, bảo lãnh mẹ mình ra tù và cam kết với thị trưởng Đà Lạt lúc đó ông Cao Minh Hiệu, người sáng lập ấp Ánh Sáng nên sau này hay kho cá cho ôn. Mẹ mình nấu ăn cực ngon. Còn nếu không thì tây cho đi ra bắc như chú Phấn, tiệm thuốc tây Minh Tâm hay ông Lê Xuân Ái, bạn của tướng Tôn Thất Đính, nhà ở dốc Nhà Làng, đến 75 mới trở lại Đà Lạt và ông Ký, đối tượng một thời của cô Ba Chỉ, tiệm Bình Lợi. Có lẻ họ có liên lạc với cô Ba Chỉ nên trước 75 cô ta làm kinh tài tiếp tế cho Việt Cộng.


Sau này làm ăn khấm khá nên ông bà Phúng cần người giúp việc nên về làng An Lưu, quê mẹ mình nói với mệ ngoại để bà Phúng đem vào Đà Lạt giúp ông bà buôn bán. Cháu bà con nên tin tưởng hơn đồng thời giúp bà con làm ăn. 1 người đi Đà Lạt cả họ được nhờ. Bà Tiềm lấy chồng đi trước, rồi kéo anh chị em vào rồi đến họ hàng. Cho nên sau này lớn lên ra Khu Hoà Bình gặp toàn bà con hay người làng với ôn ngoại hay mệ ngoại. Sau này mẹ mình ra riêng ông bà Phúng đưa hàng cho mẹ mình bán ở chợ Đà Lạt. Kiểu mượn đầu heo nấu cháo. Mẹ mình vẫn tự hào tay không quậy bột nên hồ. Hôm trước nói chuyện với mình qua điện thoại thì mẹ mình có chỉ hình ảnh người sang lại cái sập cho mẹ mình ở chợ cũ Đà Lạt. 


Khi ông cụ mình giải ngủ, học thi vào làm công chức của ty công chánh Đà Lạt thì ông ta bắt ông cụ mình ra nhà ông ngủ để ông ta xem xét học hành. Sáng sớm ông đánh thức ông cụ dạy kêu học bài. Mới đậu. Nghe nói là nhờ ông ta nộp đơn dùm vì nộp trễ nên ông ta đưa thẳng cho trưởng ty công chánh. Mình nghe nói ông ăn đồ cao lương mỹ vị không được vì bệnh dạ dày hay chi đó. Chỉ thích cá kho của mẹ mình. Mình cũng thích ăn cá kho. Lâu lâu mấy chị bạn nấu cho nồi cá kho kêu đến lấy về cho vợ chồng ăn. 


Ngoài ra ông còn mua thuốc lá từ Quảng Nam đem về Đà Lạt để bán cho người Huế hút. Người ta gọi quen thuốc Cẩm Lệ ở Huế. Hình như mình có kể vụ này rồi. Thuốc Cẩm Lệ Huế” là một loại thuốc lá sợi nổi tiếng xưa của Huế, làm từ lá thuốc trồng ở vùng Cẩm Lệ (Quảng Nam – nay thuộc Đà Nẵng), rồi đem ra Huế chế biến theo bí quyết riêng. Năm ngoái mình có ghé làng Thanh Quýt, nơi một anh bạn sinh ra đời. Cũng là nơi trồng thuốc lá cẩm lệ ngon cực. Đồng chí gái kể là sau 75, chị dâu có bán thuốc tẩm. Mua thuốc lá kiểu làng Cẩm Lệ rồi về nhà tẩm thuốc gì cho thơm để thiên hạ mua. Sau vượt biển hết bán thuốc.


Người Huế thời cuối thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20 rất chuộng loại thuốc này, từ giới lao động đến tầng lớp quý tộc. Thuốc được xắt sợi, vấn bằng giấy quyến thành điếu nhỏ hình “sâu kèn” để hút. Cậu Liễu, con bà Dụ, chị bà Tiềm, từ Huế vào giúp ông Tiềm buôn bán thuốc Cẩm Lệ , sau này cậu ra chợ mới, khu hàng guốc, có sập bán thuốc cẩm lệ và giấy quyến. Khi xưa, mình hay ra cậu để mua thuốc cẩm lệ cho mệ ngoại khi mệ từ Huế vô ở nhà mình. Mệ mình hút thuốc cẩm lệ vui lắm. Lấy giấy quyến ra rồi quấn điếu thuốc hình sâu kèn. Hút dỡ thì tắt lửa rồi dán điếu thuốc hút dỡ lên tường. Khi nào hút tiếp thì lấy hai hay ba điếu thuốc hút dỡ quấn giấy quyến mới làm một điếu.


Mình nghe kể khi tây đổ bộ lại Việt Nam để giải giới quân đội Nhật Bản sau 1945 thì việt minh kêu gọi người Việt tản cư ra khỏi Đà Lạt nên thiên hạ sợ tây bỏ bom, càn quét nên nghe Việt Minh chạy tản cư hết. Ông Tiềm không đi nên ai tản cư thì họ bán rẻ nhà cửa lại cho ông. Lúc tây vào Đà Lạt, có vào tiệm ông hạch hỏi đủ trò, suýt giết. May sao thoát, đến khi dân Đà Lạt hồi cư thì cần nhà cửa nên mướn của ông để buôn bán làm ăn như khách sạn, tiệm buôn bán. Nghe bà cụ mình kể là đường Duy Tân khi xưa, phía bên tiệm bà Cửu Viện đi xuống đình An Lạc, khu phố I là toàn nhà của ông cho mướn. Ông Phúng và ông Đàng, em vợ của ông Tiềm đều mướn nhà của ông để buôn bán. Sau này mua đất ở số 9 và 11 đường Duy Tân, xây nhà lầu rồi dọn về đó đến giờ. Tiệm đầu tiên đường Duy tân, cạnh tiệm Vĩnh Hoà là của ông Võ Quang Hàm, cháu của ông Tiềm. Có người con gái tên Minh, theo Việt mInh bị bắt rồi khai ra mẹ mình. Hồi nhỏ, đi chợ về, mẹ mình hay ghé vào thăm bạn tù khi xưa. Chú Phấn là chồng, cũng ở tù chung dạo đó. Vô lao thì phát hiện ra mối tình hữu nghị với cô Minh nên sau này, tây đưa ra Bắc giam cùng thời với ông Lê Xuân Ái, ANh Võ,… sau được thả thì về Đà Lạt lại, nếu không thì chắc ở lại ngoài bắc như ông Lê Xuân Ái. Hình như mấy người bị bắt về lại có ông Năm Ngựa, ông Sáu Có dưới chợ Đà Lạt.


Nghe nói ông ta sở hữu đâu 100 căn nhà trước khi Việt Cộng vào. Nhà ở Đà Lạt, ở Đơn Dương, Di Linh, Sàigòn thậm chí có mua nhà bên tây khi mấy người con đi học bên tây. Ông mua nhà ở Issy les MOulineaux. 1 căn cho cậu Tri, cậu Miên và dượng Ngô Viết Thụ ở và 1 căn để dì Tiếp và dì Út ở. Nên nhớ thời đó, 1 đồng bạc Đông-Dương có giá trị bằng 10 quan pháp nên mua nhà bên tây rẻ rề. Ngoài ra ông ta có mấy căn phố cho thuê để người ta làm khách sạn như Anh Đào, Mimosa,… Mình chỉ nhớ ông Tiềm và ông Đàng hùn nhau xây cái khách sạn bên cạnh chợ Đà Lạt, ngay bùng binh chợ mới. Mình có thấy công trình bắt đầu trước khi mình đi tây. Nghe nói ông Đàng bỏ ra đâu 800 cây vàng, dượng Ngô Viết Thụ cũng bỏ một ít và thiết kế thì đùng một cái mấy ông Việt Cộng vào, mất hết.


Ông Tiềm vào Đà Lạt với hai bàn tay trắng để dựng nên sự nghiệp, 50 năm sau, mấy ông thần đi theo cách mạng về kêu ông ta là tư bản mại sản, có nợ máu với nhân dân nên tịch thu hết tài sản. Tiệm Vĩnh Hưng cũng bị lấy luôn, họ chỉ cho ông bà ở phía sau tiệm chỗ nhà bếp. Ra vào bằng ngõ đường Trương Vĩnh Ký. Chán Mớ Đời 


Thật ra, dân Đà Lạt mà sung túc giàu có đều từ miền Trung, miền Bắc hay miền Nam đến lập nghiệp với hai bàn tay trắng. Sau vài chục năm chịu khó, họ tạo dựng được tài sản rồi bị Việt Cộng tố là tư bản mại sản, có nợ máu với nhân dân nên tịch thu hết tài sản của họ nên chỉ biết xuống tàu vượt biên. Ai ở lại cũng chết sớm.


Đau nhất là các ngài được Việt Cộng gọi là tư sản dân tộc vì thời kỳ đánh cho Mỹ cút ngụy nhào, họ đã kinh tài giúp Việt Cộng rất nhiều. Sau đó thì tịch thu hết sau vụ đổi tiền. Nhiều người mình gặp lại ở hải ngoại chửi thề bí xua la mua. 


Nghĩ lại thì dân nghèo có hai cách xóa đói giảm nghèo: một là đi xa kiếm tiền làm ăn như thế hệ bố mẹ mình hay lớn tuổi hơn như ông bà Tiềm,  vào Đà Lạt. Chịu khó hà tiện tạo dựng sự nghiệp. Cách thứ hai là đi theo cách mạng, tối tối mò về nhà dân chúng phong họ là cha mẹ Việt Nam anh hùng rồi kêu nấu cơm cho ăn như ở chùa. Sau này đánh cho Mỹ cút ngụy nhào thì vào thành phố, kêu mấy người bỏ cả thanh xuân họ tạo dựng sự nghiệp, tịch thu hết tài sản và đuổi họ đi kinh tế mới kêu tư bản mại sản, có nợ máu với nhân dân. Kiếp sau chắc thiên hạ sẽ chọn cách xóa đói giảm nghèo là đi theo cách mạng. Vấn đề thì ai cũng đi theo cách mạng thì ai nấu cơm trồng lúa để được phong mẹ vn anh hùng. Chán Mớ Đời 


Trường hợp ông ngoại mình cũng vậy, bỏ làng Dưỡng Mong vào Bảo Lộc mà thời tây gọi Blao, làm rẫy, trồng trà bán cho thiên hạ, toạ dựng nên tài sản rồi 75 về, mấy ông trong rừng ra kêu tư bản mại sản, có nợ máu với nhân dân thế là giết luôn. Con cháu không biết thân xác ở đâu, chết ngày nào để cúng giỗ. Chính sách xoá no giảm giàu suốt t10 năm đến khi đói quá thì năn nỉ mỹ qua Việt Nam làm ăn lại. Chán Mớ Đời 


Khi mình về Đà Lạt lần đầu thì ông bà Tiềm đã qua đời. Mình có lên mả thánh thắp hương cho ông bà. Cái mộ của ông bà được xây hình tròn do người con rể là kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế. Mình có chụp hình nhưng lười đi tìm, chỉ có tấm ảnh mộ của ông Phúng. Nay thì Việt Cộng họ dẹp bỏ mả thánh nên chả biết mồ mả nằm chỗ nào. Nghe nói ở chùa Phật giáo Việt Nam. Lần sau về Đà Lạt mình mò lên để thắp hương cho ông bà.  (Còn tiếp)


Thành thật xin lỗi trước ! Kế tiệm Vĩnh Hưng của Bác Võ Quang Tiềm , có tiệm vàng Huỳnh Ngọc của Thân Phụ của tôi là Ông Huỳnh Ngọc Suyền (trước năm 1970 , Ông là chủ tịch hiệp hội kim Hoàng Thành phố Đà Lạt) chứ không phải Huỳnh Ngọc Cửu như anh đã viết trong bài . Xin anh làm ơn chĩnh lại , cám ơn !


mê tiềm tên là nguyên  thi thuyết  ỏ làng An  Lưu huyen phu vang tỉnh Thưa thiên Huế,ôn tiêm ở langf kế bên là Ngoc Anh 2 người luc vô Dalat con nghèo lăm mê ra chơ ngồi bán đồ khô con ôn  may quần đùi  đi bô theo đường ray xe lửa bán với ôn Phung ,bới cơm vắt theo ăn 3 ngày mới trỏ về nhà,luc mơi vô Dalat ai cing ngheo khổ hết cần kiêm và cố gắng làm mới giàu đươc

Họ Võ làng Ngọc Anh này đưa nhau vào Dalat cả làng từ rất sớm. Ban đàu buôn bán nhỏ, làm thợ thuyền, sau rất giàu có. Tôi vẫn còn giữ được một số ảnh các ông họ Võ sau khi thành danh thì về Huế tổ chức một đại trai đàn rất lớn, trên tấm biển có ghi phương danh hỉ cúng trong có ông Tiềm . Tiếc là sau 75 thì cả gia đình và tài sản đều tứ tán hết.

để di hỏi thêm dì Út còn sông ở  pháp ,dì biết nhiều chuyên hay lắm

https://suno.com/s/Klci8KaOV7cnqgV5

Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen

Nguyễn Hoàng Sơn 

Chuyện nổ mìn tại rạp Ngọc Lan

 Chuyện nổ mìn tại rạp Ngọc Lan


Nhớ có lần về Đà Lạt, mấy cô bạn học Yersin xưa mời ăn bánh uống trà. Ngồi nói chuyện đời xưa, khi không có cô hỏi mình nhớ Nguyệt Thu không khiến mình ú ớ. Lý do là mấy cô ngồi trước mặt còn không nhớ huống chi nữ đặc công của Việt Cộng học Yersin Đà Lạt. Vụ nổ mìn ở rạp Ngọc Lan khiến mình nhớ đến nhà hàng xóm trên đường Thi Sách có người con chết trong vụ này.



Dạo sau Mậu Thân thì Đà Lạt hay có vụ Việt Cộng đặt mìn. Vụ đầu tiên nếu mình không lầm là vụ anh Paul và ông Thanh, ông bầu của đội túc cầu Đà Lạt. Nghe kể là hai người này vào nhà hàng Nam Sơn ăn rồi khi ra về, bước xuống mấy bậc thang cấp, mở xe thì ầm, lựu đạn hay mìn gì đó nổ tung khiến hai ông này chết queo tại chỗ. Anh Paul là thủ quân đội tuyển đá banh Đà Lạt dạo đó, hình như mới đoạt giải túc cầu, quân khu II, đá bại đội tuyển Phan Thiết, được xem là có nhiều cầu thủ hạng B của đội tuyển Việt Nam Cộng Hoà. Nhà ngay đường Phan đình Phèo, chỗ nhà hàng Cẩm Đô nhìn qua. Sau này qua Văn Học thì có học chung với em của anh ta. Mình đoán là hai ông này làm việc trong chiến dịch Phượng Hoàng.


Sau đó ở cây xăng Ngã Ba Chùa, chỗ cây xăng rồi chỗ quán cơm bên cạnh nhà chồng của bà dì mình, ngay tiệm hớt tóc. Rồi đâu chỗ khu phố I, đường Duy Tân, cũng banh ta lông cuộc đời. Và vụ nổ ở rạp Ngọc Lan. Đó là những vụ nổ mìn mà mình nhớ. 


Có lần con gái tiệm hủ tíu Nam Vang, nay ở Seattle, có liên lạc với mình và gửi tặng vài tấm ảnh của gia đình tại Đà Lạt trước lữ quán Sàigòn trên đường Minh Mạng, cạnh quán bi-da Hồng Ngọc. Họ thuê của ông bà Bùi Duy Chước. Con của bà tiệm hủ tíu kể là sau 75, có một ông nằm vùng nói với mẹ cô ta là lúc xưa, ông ta có lệnh phải đặt mìn ở quán hủ tíu Nam Vang. Lý do là cuối tuần mấy ông sĩ quan Võ Bị, gốc người Nam hay ghé lại đây ăn đông như quân Võ Bị. Hôm đó, ông ta đến ăn và đem gà men để mua về. Ông ta đặt mìn trong gà men, bỏ lại như quên trên bàn rồi đi ra cửa. Tại đây ông thấy một đám trẻ con đang chơi vui vẻ, hát vang như có tô hủ tíu trong ngày vui đại thắng. Nghĩ sao ông ta trở lại bàn và lấy cái gà mên đi. Nếu không là hôm ấy ông ta đạt chiến tích oai hùng giết được vài tên sinh viên nguỵ và một đám trẻ con vô tội tại Đà Lạt. Như nhà thơ Tố Hữu đã kêu gọi “giết , giết nữa, bàn tay không phút nghỉ”


Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ,

Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong,

Cho đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng,

Thờ Mao Chủ tịch, thờ Sít-ta-lin bất diệt”


Nghe con bà bán hủ tíu Nam Vang kể khiến mình rùng mình vì khi xưa có lần mình bị một vố tương tự. Số là ông cụ mình là đoàn trưởng Nhân Dân Tự Vệ của nhà máy nước Đà Lạt. Nên được cấp công xa, chiếc xe Traction màu đen. Sáng mình có nhiệm vụ xuống đường Hai Bà Trưng vì ông cụ đậu xe ở dưới đường Hai bà Trưng, trước nhà ông Bửu Duy. Xe cũ nên không giữ nước nhiều nên mỗi sáng mình phải châm thêm nước vào bình làm giảm nhiệt độ, xem dầu nhớt, lấy cái manivelle quay máy cho nổ máy xe vì thường Đà Lạt buổi sáng lạnh nên khó đề xe. Chuẩn bị trước khi ông cụ chở mấy đứa em đi học nếu không lại mất thêm thời gian, quay xe.


Một hôm mình nghe tiếng Tíc tắc trong xe mà chả biết ở đâu, không thấy cái đồng hồ. Mò khắp nơi không thấy nên khi ông cụ xuống đường với mấy người em để ông cụ chở đi học ở trung tâm giáo dục Hùng Vương thì mình nói có tiếng đồng hồ mà không biết ở đâu. Hai cha con cứ mò mó trong xe trong khi tiếng Tíc tắc cứ kêu đúng quy trình. Mấy đứa em thì đứng ngoài đường, đợi lên xe. Bổng nhiên có một ông trẻ độ 25-30 chạy lại chả nói năng gì cả rồi đưa tay lên trần xe, mò mò dưới tấm vãi rồi rút ra cái đồng hồ con gà nhỏ thường để báo thức buổi sáng. Đến không nói nên đi ông thần cũng chả thốt ra một lời từ biệt, đem cái đồng hồ đi lên phía trường Đa Nghĩa. Mình và ông cụ đứng nhìn theo chỉ ú ớ trong miệng, chả ai lên tiếng hỏi ông thần một câu. Mình đoán là ông thần đặt chất nổ nhưng có lẻ là lần đầu tiên nên làm sai hay sao thấy không nổ nên bò lại lấy cái đồng hồ đi đỡ mất công ra tiệm Tiến Đạt lấy cái khác. Nghe nói ông Tiến Đạt là nằm vùng. Có thể ông thần thấy mấy đứa em mình nên động lòng trắc ẩn nên chạy ra lấy cái đồng hồ và quả mìn đi. Đó chỉ là giả định, ông thần nào lấy cái đồng hồ đi hôm ấy thì cho em biết để em hậu tạ. Chán Mớ Đời 

Đồng chí gái qua ChatGPT


Sau Mậu Thân, cứ đọc báo mỗi ngày là thấy Việt Cộng pháo kích vào nhà dân, thậm chí vào trường học như ở Cái Lậy, họ canh đúng lúc ra chơi nên trẻ em chết vô số kể. Trong phim Áo Lụa Hà Đông, hình như do đạo diễn Lưu Huỳnh thực hiện thì có cảnh cô bé đi học bận cái áo dài của mẹ bị Việt Cộng pháo kích trúng ngay lớp, nằm chết như mơ. Đà Lạt không bị pháo kích. Sau này mới biết là Việt Cộng có pháo kích một lần, đạn trúng xuống ruộng ngay gần bến xe đò cạnh ấp Ánh Sáng. Thiếu tá Lê Xuân Phong, tiểu đoàn trưởng 204 và đại đội trinh sát 302 kể Ông tỉnh trưởng Tuyên Đức mới nhờ Đại đội 302 đi hành quân đem vài xác Việt Cộng về, quăng nơi chỗ bị đạn pháo kích rơi. Mình đoán là để làm gương cho Việt Cộng nhất là đại đội trinh sát đi tuần, hành quân xung quanh Đà Lạt rất nhiều nên Việt Cộng khó đặt đại bác để pháo kích vào thị xã. 


Do đó người Đà Lạt yên vui, người lớn thì rất cảm ơn đại đội trinh sát 302, còn nằm vùng chửi kêu kiêu binh, đánh lộn đánh lạo này nọ. Cho nên ai ở Đà Lạt khi xưa mà ngủ ban đêm không sợ bị Việt Cộng pháo kích là nhờ đại đội trinh sát 302, đi lùng Việt Cộng trong Núi Voi, Cam Ly, mấy vùng thuộc cự ly pháo kích vào Đà Lạt nên không có Việt Cộng đóng ở những địa điểm có thể pháo kích vào Đà Lạt.


Mình chỉ nhớ có hai trận tấn công của nằm vùng; 1 là đồn Nhân dân Tự Vệ ở đường Thi Sách, phiá sau lưng trường Đa Nghĩa, chỗ nhà Tuấn Cao đi lên số 4 một tí. Nguyễn Anh Tuấn, ở trên đường Thi Sách, học chung với mình năm 11B được mấy tháng, rủ mình đi gác Nhân Dân Tự Vệ với hắn nhưng mình tuy ở ấp Đa Thuận, khu phố II nhưng lại có thẻ Nhân dân tự Vệ do ông Ngô LA, chủ tịch khu phố I, quen ông bà cụ mình cấp. Đêm đó, đâu năm 1973, nghe tiếng súng cóc cóc của AK Việt Cộng nổ rồi súng của Nhân dân Tự Vệ, Carbin M1, lâu lâu có tiếng ầm B40. Mình và ông cụ bò dậy đứng trên lầu nhìn qua cửa sổ về hướng số 4, thấy lâu lâu đạn lửa bắn chéo chéo. Kinh. Nên chả buồn đi gác nhân dân tự vệ nữa.


Nhớ ở ngã Ba Chùa có một hợp tác xã rau khi xưa, cạnh nhà bà Mười Võ sau được trưng dụng làm trụ sở Nhân Dân Tự Vệ cho khu vực đường Phan Đình Phùng. Có hai tên nào ở chỗ tiệm xe Tân Tiến cãi nhau, một tên về lấy súng nhân dân tự vệ, chạy qua nhà bắn tên kia cái đùng, chết tươi rồi thằng anh tên bị bắn chết, lấy súng qua nhà bắn lại chết cái đùng. Hai gia đình khi không làm đám ma cho hai đứa con trong một ngày. Chán Mớ Đời 


Nói đến nhân dân tự vệ và cậu Ngô La. Mình không biết có bà con chi với ông Ngô La hay không, bà cụ mình mỗi lần gặp ông Ngô La là kêu chào cậu đi con. Mình ở ấp Đa Thuận, khu phố 2 nhưng ông Ngô La, chủ tịch khu phố I lại ký giấy nhân dân tự vệ cho mình nhưng không phát súng. Có lần tên hàng xóm lớn hơn mình mấy tuổi, học Sàigòn rớt tú tài nên về Đà Lạt, làm khai sanh giả trụt tuổi đi học lại, rủ mình ra phố chơi ban đêm. Gặp giờ linh nên chạy qua trước rạp Hoà Bình bị tuần cảnh chận lại với cò Giao, cò Mạnh. Mình đưa giấy tờ có ông Ngô La đứng ngay đó ký. Mình chào cậu đàng hoàng, rất lịch sự trước mặt CÒ Giao và cò Mạnh, kiểu văn hoá người Việt ngày nay, vỗ ngực kêu biết bố mày là ai không. Cậu Ngô La kêu mi đi mô túi rứa.


Tên hàng xóm mặt xanh như đít nhái, hắn ríu ríu đưa giấy tờ ra nhưng thiếu thẻ học sinh vì chưa vào học, thêm không có giấy nhân dân tự vệ hay hoãn dịch, vì chưa đi học. Cò Giao kêu đứng qua một bên, mình thấy hắn rầu nên đột phá tư duy chạy lại ông Ngô La kêu tên hàng xóm là con ông T. Ông Ngô La ký giấy khai sinh mới cho hắn nên đến nói chi với cò Giao nên cò Giao ra hiệu cho hai thằng đi đi. Sáng hôm sau ông bố của tên hàng xóm la mình như tát nước vào mặt. Hắn rủ mình đi chơi, lớn tuổi hơn mình, mình đã cứu hắn mà còn bị la oan thị kính. Chán Mớ Đời 


Một đêm khác cũng nghe ầm ầm, sáng ra mới khám phá là đêm qua nằm vùng bò về tấn công trung tâm thẩm vấn Đà Lạt, chỗ nhốt nằm vùng trên đường Bá đa Lộc, đi vào trường Lasan Adran. Trưa đi học về thấy họ để mấy cái xác Việt Cộng bị bắn chết nằm trên đường đi xuống ấp Mỹ Lạc thì phải. Có hai người làm ở trung tâm thẩm vấn, là bác Lê Công Oai, bố Lê Công Hùng tập Thái Cực Đạo ở trường Lasan với mình và ông gì ở đường Hai Bà Trưng ngay dốc lên nhà Thương. Bác Oai là chuyên gia bắt nằm vùng như bắt thằng Vui, con bà Thủ trên đường Thi Sách, học sinh Trần Hưng Đạo. Mới ngày nào, còn đánh bi với mình thì được tin theo Việt Cộng bị bắt. Có lần đi tập Thái Cực Đạo ở Adran vào buổi chiều. Bác OAi đi sớm nên chở mình và thằng con bác lên trung tâm thẩm vấn. Bác dẫn mình đi vòng vòng, mở một ca hot thì thất tên Vui ngồi trong đó. Bác kêu khai đi rồi cho về. Khiến mình thất kinh hồn vía vì tên hàng xóm ngày nào còn chơi bắn bi với nhau. May sau 75, mình đi tây chớ ở nhà chắc bị hắn xử liền. Mẹ hắn với bà Thới đì gia đình mệt thở khi ông cụ bị bắt đi tù.


Nghe kể bố thằng Tiến học đại học Đà Lạt, người cao cao đâu 1.8 mét, chuyên gia khảo cung. Bỏ Việt Cộng vào thùng sắt rồi lấy dùi cùi gõ ban đêm. Không biết hai ông này sau 75 ra sao vì nghe Việt Cộng sau 75 đi lùng lính trinh sát 302 để giết. Có người kể là sau 75, Việt Cộng đi kiếm thiếu tá Lê Xuân Phong nói gặp là xử ngay không on đơ gì cả.


Khi mình về Đà Lạt lần đầu tiên thì có ghé thăm ông cậu họ, kêu ông ngoại mình bằng cậu. Ông cậu này kể mới đi Gia-nã-đại về khiến mình tò mò hỏi ông cụ. Lý do là trước 75, ông cậu mình làm trưởng ty hay phó trưởng ty cảnh sát ở Đà Lạt, bên cạnh nhà thờ COn Gà. Thấy cậu hay chạy chiếc xe Jeep xanh trắng kiểu Tuần Cảnh khi lên nhà mình. Mà sao sau 75, lại không đi tù như ông cụ mình. Ông cụ giải thích là cậu mày là nằm vùng rồi chiến dịch Phượng Hoàng khắp nơi, thì có người bị bắt khai là cậu mày cũng có chân trong tổ chức ở Đà Lạt. Thế là ông cậu thấy nguy hiểm nên kêu cấp trên cho đặt mìn để giải toả sự hoài nghi của phía “Nguỵ”. Thế là Việt Cộng nằm vùng cho đặt mìn xa xa nhà của cậu một tí.


Nghe kể chủ mưu vụ đặt mìn là ông thần tên Huỳnh Nhật Hải nhà ở cạnh rạp Ngọc Hiệp chỉ cách 1 con hẻm. Trước 75 nhà ông này cho người tàu thuê bán ăn sáng tên là nhất phẩm Thăng. Còn cô học chung khi xưa mà mình chả biết hay nhớ tên Nguyệt Thu thì phải, cũng là nằm vùng, chắc nhờ phát hiện ra mối tình hữu nghị cách mạng với ông thần Huỳnh Nhật Hải nên cũng dính dán vào vụ đặt chất nổ này. Vấn đề là Việt Cộng họ chơi rất có quy trình, bài bản như trong phim “người Mỹ thầm lặng”. Họ cho nổ một trái mìn nhỏ trước, kiểu cho dân Đà Lạt ăn khai vị trước rồi khi công lực, xe cứu hoả, xe nhà thương, dân tò mò đến thì họ mới cho ăn món chính, trái mìn to gấp mấy lần trái khai vị. Thế là chết nhiều. Nhà hàng xóm trên đường Thi Sách, có người con trai làm lính cứu hoả, đến để cứu người thì bị mìn thứ hai chết cùng 1 người phụ tá, cùng bà mẹ đang có bầu và 2 đứa bé chết cùng 1 lúc. Xem như Việt Cộng giải phóng họ trước 75, khỏi khổ cực như dân Đà Lạt sau 75. Nhớ khi xưa, ông cụ kêu ra đường nghe đặc ông đặt mìn thì đường bao giừo ghé lại tránh xa vì sẽ có mìn thứ 2 hay thứ 3.


Có anh bạn Yersin kể như sau: “Thằng chồng nó (Nguyệt Thu) là chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố Đà Lạt tên là Huỳnh Nhật Hải. Thằng anh nó là Huỳnh Nhật Tân Hiệu trưởng trường đào tạo cán bộ tỉnh Lâm đồng. Mẹ nó làm kinh tế cho việt cộng. Hai anh em nó bỏ đảng rồi. Trước 75, 2 anh em nó vào rừng núi voi hoạt động cho cộng sản.”


Mình nghe thiếu tá Phong tiểu đoàn trưởng 204, đại đội 302 kể mỗi lần đi trận về là ghé tắm nước nóng chỗ Ngọc Hiệp, tắm xong anh đợi thằng Nghĩa cắt tóc. Hắn hỏi anh đi hành quân chỗ nào này nọ. Rồi cười kêu ai ngờ nó làm nằm vùng sau 75 mới biết. Mình nhớ ông Kim dưới Trại Hầm hay Trại Mát thầu khoán xây nhà cho bố mẹ mình với ông chi cũng người huế trên Số 4 làm thợ mộc. Sau 75 mới khám phá ra hai người này là nằm vùng. Kinh 


Một anh bạn học khác cho biết: “Có, nhưng chỉ nhớ là khoảng năm 1970, không nhớ ngày , tháng. Chiều tối hôm ấy vừa học xong Anh Văn Hội VMy ở trường ĐTĐiem thì nghe tiếng nổ rất gần và đèn điện trong lớp tẳt tối om. Ông thầy  ( My) ra đứng gần cửa dang bàn tay ra, trong lòng bàn tay có đeo sẵn một đèn pin nhỏ tí xíu nhưng sáng lắm, soi sáng cho mọi người đi ra khỏi lớp. Tớ thích và cứ ngắm cái đèn pin này, ra đường thấy mọi người chạy đi chạy lại nhưng không biết chuyện gì, sáng hôm sau ngủ mới biết !”


Có dạo Đà Lạt có chiến dịch thanh lọc thanh niên nhưng không thanh nữ. Đó là sai lầm của phe ta. Họ bắt hốt hết các thanh niên Đà Lạt đem vào trong Thao Trường để hỏi giấy tờ thanh lọc này nọ. Mình đoán là chương trình Phượng Hoàng. Ông cụ mình dặn mấy ngày không ra phố. (Còn tiếp)


Em phải lên vườn sớm.

Vợ ông Huỳnh Nhật Hải tên là Thúy Sơn ơi, ở đối diện nhà Anh .. 75 hắn báo bộ  đội  kèm mình đi nghỉ mát ngày 8.6.1975

Nguyễn Văn Hoà đúng vậy. Tôi từng học với cô Thuý này

Hôm nổ ở rạp Ngọc Lan, tụi và nhỏ bạn cúp cua đi coi ci nê. Thường tụi tui coi phim nào cũng 2 xuất vì permanent, hên sao bữa đó lại coi có một xuất rồi vừa về tới nhà nghe đồn nổ ở rạp Ngọc Lan mà xanh mặt. Từ đó không dám đi xem phim vì tụi nó ác ôn quá.
Có một vụ nổ ở đường Duy Tân chỗ cái văn phòng của ấp gì đó có bãi đất trống làm thằng bé khoảng 8 tuổi ở sau lưng nhà tui trúng mìn giăng xuống tiệm bún bò đường Phan đình Phùng.
Thật thương tâm.

Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 



Từ làng Kế mÔn đến Đà Lạt

 Từ Kế mÔn đến Đà Lạt


Mình sinh ra và ở Ấp Ánh Sáng đến khi vào học Petit Lyce’e mới dọn về đường Hai Bà Trưng. Hồi nhỏ học trường Ấu Việt, đi qua cầu Bá Hộ Chúc rồi rẽ đường Đoàn Thị Điểm dọc con suối Cam Ly, song song với đường Cường Để là đến trường. Chỉ nhớ ấp Ánh Sáng toàn là dân Huế ở xung quanh như gia đình Bác Cháu, bán mắm ngoài chợ, gia đình Dì Bơn,… có thể nói Ấp Ánh Sáng là ấp của người Huế di cư vào Đà Lạt mà đông nhất là dân làng Kế Môn. 


Đà Lạt có Ấp Hà Đông, gần Mả Thánh do người từ vùng Hà Đông di cư vào thành lập. Mình có anh bạn học có ông bố khi xưa ở Hà Nội làm cho một công ty người Pháp về cây cỏ. Ông bố được đưa vào Đà Lạt để xem thử có thể trồng trọt rau quả như ở pháp kiểu poireau, xà-lách, khoai tây,… sau này ông Hoàng Trọng Phu, tổng đốc Hà Đông, đem người vào Đà Lạt để trồng trọt rau quả của người Pháp. Lâu rồi, về Đà Lạt, có anh bạn chở mình đến một trung tâm hay viện bảo tàng của người di dân từ Hà Đông vào.


Ngoài ra khu Số 4, cũng toàn dân từ Huế vào. Có lẻ vì Vậy người ta gọi Đà Lạt là Huế Cao Nguyên. Dân gốc Quảng thì gọi Quảng Nam Cao Nguyên,… thường người Huế vào Đà Lạt làm ăn, rồi khấm khá thì về làng đem con cháu, bà con vào giúp họ. Như trường hợp bà cụ mình, năm 15 tuổi, có người bà con về Huế, nói với mệ ngoại mình cho đem mẹ mình vào Đà Lạt giúp việc. Tiền lương thì gửi thẳng cho mệ ngoại.


Họ hàng thì tin tưởng hơn chớ người đâu khơi khơi mướn cũng ớn. Nhớ có lần có một chị người làm gốc Quảng giúp việc cho mẹ mình. Rồi một ngày đẹp trời, chị ta biến mất. Hỏi ra chị ta nằm vùng, cảnh sát đặc biệt theo dõi, suýt bắt. 

Tiệm vàng đầu tiên ở Đà Lạt do ông Bùi Duy Chước, làng Kế Môn, Thừa Thiên thành lập


Mấy tên học chung với mình khi xưa như Bùi Văn Đông, Hoàng Ngọc Ánh,…đều là dân gốc làng Kế Môn, một làng nổi tiếng về nghề kim hoàn. Có tiệm vàng Kim Thịnh thì không phải gốc Kế môn. Cách đây đâu 2 năm mình bay qua Boston để ăn cưới cô cháu thì có một bà hỏi mình: “biết ai đây không?” Khiến mình như bò đội nón, chắc chắn chưa bao giờ gặp trên đời. Hoá ra là con gái đầu của tiệm vàng Hoàng Ngọc Bửu, chỗ khu Hoà Bình, chị của Hoàng Ngọc Ánh. Năm ngoái có gặp lại Bùi Thị Hoa, em gái Bùi Văn Đông, con Bùi Vàng khi về Paris. Còn thì lâu lâu vẫn nghe tin tức của con tiệm vàng Kim Thịnh, cũng học chung khi xưa trên mạng.

Thấy dân Đà Lạt tải tấm ảnh này lên mạng nên tải lại để Michel Phong Văn Gừng, học chung khi xưa nhìn lại. Năm ngoái mình có gặp lại anh chàng ở Melbourne, Úc đại Lợi

Ngoài ra lâu lâu cũng có tin tức Lâm Quốc Dũng, con bà Bùi Thị Hiếu, mình quên tên ông bố, họ Lâm gốc hoa. Có lẻ ông chồng bà Bùi Thị Hiếu cũng là dân thợ bạc. Bà Bùi Thị Hiếu quen bà cụ lâu lắm rồi khi còn con gái. Mỗi lần bà ta bên pháp về Đà Lạt, đều ghé thăm bà cụ mình. Năm bà cụ sang Pháp thì đúng lúc bà ta lại về Đà Lạt. Sau này nghe nói bà Bùi Thị Hiếu bệnh rồi mất tại Đà Lạt.

Tiệm vàng và tiệm Cầm đồ Bùi Thị Hiếu, con gái đầu của ông Bùi Duy Chước. Hình phục chế
Thấy ai tải lên mạng, nói đây là chữ viết của mẹ khi làm việc cho bà Bùi Thị Hiếu. Chữ rất đẹp.

Nhưng nếu nói về những người đầu tiên làm nghề kim hoàn tại Đà Lạt, thì có thể chia thành 2 nhóm lớn: thợ bạc Huế, làng Kế Môn, là nhóm rất quan trọng. Từ đầu thế kỷ XX, nhiều gia đình người Huế theo chân công chức triều đình, giáo chức, quân nhân, và giới trung lưu lên Đà Lạt sinh sống. Trong số đó có các thợ kim hoàn gốc Kế Môn, làng nghề bạc nổi tiếng của Thừa Thiên Huế. Họ mở tiệm vàng nhỏ, quầy sửa nữ trang, và xưởng thủ công gia đình. Các tiệm này thường không lớn nhưng có uy tín vì làm tay rất kỹ và giữ chữ tín. Tiệm đầu tiên được mở có lẻ là tiệm Hùng Thanh của ông Bùi Duy Chước, bố của bà Bùi Thị Hiếu, toạ lạc ngay góc đường Minh Mạng và Tăng Bạt Hổ.


Dân Đà Lạt xưa chắc ai cũng nhớ có chiếc xe bán sữa đậu nành ban đêm ở ngay mấy bậc thang chỗ tiệm vàng của ông Bùi Duy Chước. Trời tối Đà Lạt lạnh lạnh, phà khói, ghé lại đây ngồi trên bậc cấp, cầm ly sữa đậu nành nóng, xoa xoa uống từng ngụm là thấy đời đẹp như trăng 16. Hôm nào có tiền sang sang kêu thêm cái bánh chuối là vui đời cô lựu. Cuộc đời quá đơn giản, nhẹ nhàng không như ngày nay.

Tiệm vàng Thương chỗ Photo Hồng Châu nhìn qua


Có tiệm vàng Kim Thịnh và Bùi Vàng ngay góc đầu Minh Mạng bên cạnh tiệm Anh Võ


Mình nhớ cách tiệm vàng Hùng Thanh mấy căn phố, có một tiệm do người Hoa. Lâu lâu ra tiệm Hiệp Thạnh chơi thì dì Thương kêu đi đây với dì. Rồi dắt mình đến tiệm này, nói chi với bà tàu, thấy bà ta đưa dì một cọc tiền bỏ vào ví. Tò mò mình hỏi, dì kêu là tiền thuê nhà. Nhà của ông bà Phúng, mình đoán là khi xưa, ông bà Phúng khởi nghiệp tại đây trước khi dọn về đường Duy Tân. Nên cho bà tàu thuê, cũng gần tiệm Hiệp Tam Kỳ của gia đình thằng Hùng học chung khi xưa. Không ngờ sau này mình cũng làm nghề cho thuê nhà. Chán Mớ Đời. Ai buồn đời thì đọc bài báo Việt Nam kể về gia tộc của ông Bùi Duy Chước.


Ông Bùi Duy Chước nghe nói chết trẻ, đâu 50 tuổi. Thời đó ông ta đi quá Cao Miên để mua vàng về làm nữ trang. Ông Trần Văn Phước, thị trưởng Đà Lạt dưới thời Ngô Tổng Thống, cũng sinh ra tại Nam Vang.


Có lần con gái tiệm hủ tiếu Nam vang và Lữ Quán Sàigòn có liên lạc với mình kể chuyện đời xưa. Nay mình khám phá ra mấy địa điểm này đều do ông bà Bùi Duy Chước làm chủ và cho thuê. Tương tự dãy nhà cạnh tiệm vàng Bùi Thị hiếu đi xuống đường Tăng Bạt Hổ cũng thuộc về gia đình ông bà Bùi DUy CHước. Có khách sạn gì tên Hoà gì đó. Cứ để đây rồi khi nào nhớ mình sẽ bổ túc thêm. À khách sạn Phú Hoà. Có tấm không ảnh chụp khu Hoà Bình của ông Bill Robie, thấy dãy khách sạn này dài lắm. Nếu mình không lầm thì dãy khách sạn Hoà Bình đường Minh Mạng, đối diện rạp xi-nê Ngọc Hiệp là của ông Ấn Độ, tiệm Saigonnais.


https://thanhnien.vn/theo-dau-xua-chuyen-cu-tiem-vang-dau-tien-o-xu-suong-mu-185580869.htm#:~:text=Nh%E1%BB%9D%2520l%C3%A0m%2520%C4%83n%2520uy%2520t%C3%ADn,C%C3%B9ng%2520n%C4%83m%2520b%C3%A0%2520Hi%E1%BA%BFu%2520l%E1%BA%A5y


Ngoài ra khi xưa ở Đà Lạt có nghề bán alpha, lon cho sĩ quan cũng hái ra tiền nhiều. Đà Lạt khi xưa có trường quân đội như Võ Bị, Chiến Tranh Chính Trị, trường Tham Mưu,.. nên có vụ gắn Alpha nên sinh viên Võ Bị khi được gắn Alpha phải ra Đà Lạt mua. Mình không nhớ mấy tiệm nào nhưng chỉ nhớ 2 tiệm Long Hưng của ông Đàng và tiệm Hiệp Thạnh ở số 9 và 11 Duy tân có bán. Mỗi lần sinh viên được gắn Alpha là ra đầy tiệm. Thấy ông Đàng phải may mấy cái ALPHA vào áo này nọ thêm bán lon cho sĩ quan. Không biết có bán mấy loại nhẩn của khoá họ ra trường hay không. Nhỏ quá nên không nhớ nhiều.


Hoàng Ngọc Ánh kể là bố anh ta học nghề và làm cho ông Bùi Duy Chước rồi sau này lập gia đình ra làm riêng, có tiệm Hoàng Ngọc Bửu ở ngay khu Hoà Bình, chỗ đường luồng từ nhà hàng Mekông đi qua. Mình nhớ cạnh tiệm Vĩnh Hưng của ông bà Võ Quang Tiềm, có một tiệm vàng tên Huỳnh Ngọc của ông bà Huỳnh Ngọc Suyền thì phải. Ình như thường được gọi ông Tư Bổ. Hồi mới khởi nghiệp thì mướn chung với ông bà Phúng, sau làm ăn khấm khá thì ra mở tiệm cạnh tiệm ông bà Tiềm. Nghe kể có hai người học nghề tên Hùng hay chi đó. Sau này họ dọn về Sàigòn. Có lần con cháu của họ có liên lạc với mình. Mẹ mình thì quen với ông bà chủ tiệm này. Khi xưa, mình làm Shipper cho mẹ mình. Thiên hạ mua đồ xong thì kêu mình xách lên tiệm cho họ. Mình đi bộ nên gọi walking shipper. Chán Mớ Đời 


Thành thật xin lỗi trước ! Kế tiệm Vĩnh Hưng của Bác Võ Quang Tiềm , có tiệm vàng Huỳnh Ngọc của Thân Phụ của tôi là Ông Huỳnh Ngọc Suyền (trước năm 1970 , Ông là chủ tịch hiệp hội kim Hoàng Thành phố Đà Lạt) chứ không phải Huỳnh Ngọc Cửu như anh đã viết trong bài . Xin anh làm ơn chĩnh lại , cám ơn !




Tiệm Tiến Đạt bán đồng hồ nhưng có thể bán vàng lá này nọ  


Người Hoa ở Đà Lạt tuy ít hơn Chợ Lớn nhưng vẫn đóng vai trò quan trọng trong thương mại. Khu Hoà Bình là do người Tàu ở Đà Lạt hùn nhau để tân trang lại sau khi chợ Đà Lạt được xây. Tiệm vàng và Cầm Đồ Bùi Thị Hiếu, có thể nói của người Việt cũng có thể là người Tàu. Vì ông chồng bà Hiếu họ Lâm. Người Hoa họ thường mua bán vàng, đổi tiền, cầm đồ, và kinh doanh đá quý. Nhiều tiệm vàng người Hoa xuất hiện gần chợ vì gắn với mạng lưới thương mại từ Sài Gòn lên cao nguyên. Không biết tiệm Huỳnh Ngọc là của người Tàu hay người Việt.


Ngoài ra tuy ít nhưng có mấy tiệm của người Ấn Độ khi xưa ở khu Hoà Bình nên chắc họ có bán vàng vì người Ấn Độ mê vàng như ăn cà ri nị. Dạo đó còn nhỏ nên không để ý mấy chuyện này.


Tiệm Long Hưng mà khi xưa sinh viên Võ Bị và Chiến Tranh CHính Trị ra đây mua alpha và lon

Sau 1954, Đà Lạt phát triển mạnh: có trường Võ Bị, nhiều trường nội trú, và tầng lớp trung lưu đông hơn. Khi đó các tiệm vàng phát triển nhanh vì nhu cầu: nhẫn cưới, đồng hồ, huy hiệu quân đội, và nữ trang. Nhiều thợ bạc Huế trở nên nổi tiếng trong giai đoạn này nhất là những người gốc gác làng Kế Môn khiến người Huế rất tin tưởng.


Làng Kế Môn thuộc vùng Phong Điền, nay là xã Điền Môn, Huế, được xem là cái nôi nghề kim hoàn của xứ Đàng Trong và của triều đình Huế sau này. Theo sử cũ, làng hình thành từ thế kỷ XIV dưới thời vua Trần Anh Tông. Ban đầu dân làng sống bằng nông nghiệp và đánh cá quanh phá Tam Giang.  


Nhân vật quan trọng nhất trong lịch sử nghề là cụ Cao Đình Độ, người được tôn là Đệ Nhất Tổ sư ngành kim hoàn Việt Nam. Tương truyền ông quê ở Thanh Hóa, rất ham học nghề kim hoàn và từng theo người Hoa để học nghề Ngân tượng từ các thợ bạc Trung Hoa. Mình đoán chắc ông ta cũng gốc hoa. Vì khi xưa người ta không dạy nghề cho người ngoại tộc.


Khoảng cuối thế kỷ XVIII, trong thời loạn Trịnh – Nguyễn rồi Tây Sơn, ông mang gia đình vào Thuận Hóa tìm đường lập nghiệp. Khi đi ngang vùng Ô Lâu gần Kế Môn, gia đình gặp nạn trên sông và được dân làng cứu giúp. Có lần mình đọc tin tức trên trang nhà của làng Kế môn thì được kể là ông Cao Đình Độ chạy giặc vào Nam thì đi ngang qua làng Kế mÔn thì thuyền ghe bị đắm chi đó nên chọn làng Kế mÔn làm quê hương thứ 2. 


Rồi sau này mới được vua triều đình Nguyễn tuyển vào nội cung. Khi sinh sống ở làng Kế Môn thì ông ta truyền nghề cho một vài người nhưng làng nghèo quá nên chả làm ra tiền đến khi được triều đình kêu vào cung thì làm ăn khấm khá nên dân làng Kế môn mới bắt đầu bỏ nghề làm ruộng, học nghề thợ bạc mong sau này vào triệu nội để làm việc kiếm ăn. Sau đó có người vào Đà Lạt, có người đi Nam vang làm ăn,.. Từ đó, nghề kim hoàn lan khắp nơi nhờ người làng Kế Môn. Dân làng này học nghề thợ bạc để kiếm ăn ở xứ người.


Con trai ông là Cao Đình Hương tiếp tục phát triển nghề và được tôn là Đệ Nhị Tổ sư. Hai cha con trở thành biểu tượng của giới thợ bạc miền Trung. Điều đặc biệt là nghề kim hoàn Kế Môn không chỉ làm trang sức đơn thuần. Người thợ phải học: luyện kim, kéo chỉ vàng bạc, chạm trổ, hàn, tạo hoa văn rồng phụng, và kỹ thuật filigree (đan chỉ kim loại cực mảnh). Nghề được giữ rất kín. Nhiều bí quyết chỉ truyền trong họ tộc hoặc cho con rể được tin tưởng.


Dưới triều Nguyễn, nhiều thợ Kế Môn được tuyển vào “Cơ vệ Ngân Tượng” trong kinh thành Huế để chế tác: đồ dùng hoàng cung, ấn tín, vật phẩm tế lễ, nữ trang cung đình, và đồ bạc nghi lễ. Vì vậy người Huế xưa thường xem thợ bạc Kế Môn là giới nghệ nhân quý tộc thủ công.


Ở Kế Môn hiện nay vẫn còn nhà thờ tổ nghề kim hoàn, mộ tổ, và lễ giỗ tổ nghề hằng năm. Trong lễ tổ, thợ kim hoàn thường cúng: búa, kềm, đục, lò nung, và các dụng cụ nghề. Họ quan niệm làm nghề kim hoàn phải có “đức tay”  tức sự trung thực và tinh sạch trong nghề. Vì nghề liên quan vàng bạc nên chữ tín rất quan trọng. Một người thợ gian dối sẽ bị cộng đồng nghề tẩy chay.


“Cơ vệ Ngân Tượng” là một trong những đơn vị thủ công đặc biệt nhất của triều Nguyễn, vừa là xưởng chế tác kim hoàn hoàng gia, vừa là cơ quan phục vụ trực tiếp cho hoàng cung ở kinh đô Huế. Chữ “Ngân tượng” (銀象) thời xưa nghĩa là nghề bạc, thợ kim hoàn, và nghệ nhân chế tác vàng bạc cho triều đình. Còn “Cơ vệ” là đơn vị trực thuộc hoàng cung, có tổ chức gần giống một “xưởng kỹ nghệ hoàng gia” nhưng nằm trong hệ thống nội vụ của triều đình.


Những người được tuyển vào Cơ vệ Ngân Tượng thường đến từ làng Kế Môn, các dòng thợ bạc ở Huế, hoặc gia đình kim hoàn có tiếng trong Đàng Trong. Được vào làm trong Ngân tượng là niềm vinh dự lớn vì nghề được triều đình bảo trợ, lương ổn định, và có địa vị xã hội cao hơn thợ thủ công bình thường. Nhiều kỹ thuật của Cơ vệ Ngân Tượng về sau truyền ra dân gian qua các làng nghề như Kế Môn. Từ đó hình thành mạng lưới thợ kim hoàn đi khắp Huế, Đà Lạt, Sài Gòn, Phnom Penh, rồi sang Mỹ và Pháp sau 1975. Cho nên ra Phước Lộc Thọ mà thấy tiệm vàng là đoán có người làng Kế Môn. Nói cho ngay nay thì nghề thợ bạc cũng không thịnh lắm vì nữ trang họ mua từ Hương Cảng hay tàu làm bằng máy, rẻ nên khó mà đo sức lại. Ngoài Phước Lộc THọ thì cũng có người làm nghề Kim Hoàn, đánh bóng nhẫn, vòng vàng cho vui thôi chớ nay người ta mua nữ trang làm bằng máy hết.


Mình không biết khi xưa ở Đà Lạt có vụ cướp mấy tiệm vàng hay không nhưng nghe nói sau 75 các tiệm vàng hay bị cướp. Có người quen ở Đà Lạt, có tiệm vàng, nghe nói bị cướp 2 lần. Hôm trước, thấy hình ảnh công an niêm phong một tiệm vàng nghe nói nổi tiếng ở Sàigòn rồi họ vác vàng bạc đi. Chán Mớ Đời 


Bài viết này làm tôi nhớ đến Ông Bà. Bên ngoại thì từ làng Kể Môn vô Đà Lạt lập nghiệp với hai bàn tay trắng. Lúc đầu đi buôn bán rau cải ở chợ, sau đó mở quẩy, rồi mới mở tiệm vàng đầu tiên ở Đà Lạt. Ông ngoại Bùi Duy Chước đã truyền nghề cho Bác Vàng, Bác Sam, Bác Quỳnh, Chú Thông, Chú Lương, v.v. Sau đến lược Anh Thương mở tiệm vàng Thương cũng ở Khu hòa bình. Anh đã qua đời. Có người hỏi tôi tên Lâm Quốc Dũng là gốc hoa. Ông Nội tôi gốc Hồng Kong, một lứa với Ông Pho, thường gọi là Chú Pho, chủ Công ty vàng lá Kim Thành. Lúc đó, có vàng Kim Hoàn và Kim Thịnh. Chú Pho cũng không giàu máy khi đến Sài Gòn, trước khi làm vàng lá. Ông Bà Nội tôi lúc đầu bán vải ở chợ Bến Thành, sau mới có vốn làm vàng. Ngày nay, tôi đã gần hưu với bằng giáo sư y khoa, tôi rất nhớ công ơn Ông Bà và Cha mẹ. Lâm Quốc Dũng, con trai bà Bùi Thị Hiếu.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn